TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2018 TỈNH BÌNH THUẬN   7/4/2020

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2018 có chuyển biến tích cực; nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và tăng khá so cùng kỳ năm trước. Dự ước tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018 tăng 8,08% so cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị tăng thêm tăng 8,13%...



        Triển khai kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 của tỉnh trong điều kiện vẫn còn nhiều khó khăn, chất lượng tăng trưởng còn thấp; các doanh nghiệp hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, khả năng cạnh tranh còn thấp, sản phẩm tiêu thụ chậm, năng suất, chất lượng chưa cao; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư phát triển còn hạn chế, thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường,... tác động đến sự phát triển của tỉnh. Trong điều kiện đó, các cấp, các ngành trong tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra từ đầu năm nhằm tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cường các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh nên tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn giữ được ổn định và có bước phát triển. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:

I. Nông - Lâm - Thuỷ sản

1. Trồng trọt

Sản xuất vụ Đông Xuân thời tiết tương đối thuận lợi, đảm bảo nguồn nước sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý nên diện tích gieo trồng cây ngắn ngày đạt 47.818 ha, tăng 2,56% so cùng kỳ năm trước; sản lượng lương thực đạt 268.274 tấn, tăng 19.904 tấn so vụ Đông Xuân năm trước.

Sản xuất vụ Hè Thu, do mùa mưa đến muộn, lượng mưa thấp, một số nơi xuất hiện nắng hạn cục bộ nên diện tích gieo trồng cây ngắn ngày vụ đạt 64.935 ha, bằng 91,68% so cùng kỳ năm trước và bằng 94,1% so kế hoạch vụ; sản lượng lương thực đạt 275.021,1 tấn bằng 88,4% so cùng kỳ năm trước (trong đó: lúa đạt 229.205,5 tấn; bắp đạt 45.815,6 tấn).

Vụ mùa gieo trồng muộn hơn năm trước do ảnh hưởng xuống giống từ vụ Hè thu, điều kiện thời tiết cũng không được thuận lợi, mưa lũ ở phía Nam, nắng hạn cục bộ ở một số khu vực ở phía Bắc, tuy nhiên với sự nỗ lực khắc phục khó khăn kết quả sản xuất vụ vẫn đạt được kết quả tích cực. Sơ bộ diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 60.299,9 ha, đạt 108,2% so kế hoạch vụ và bằng 96,5% so cùng kỳ. Riêng cây lúa 43.650,3 ha, đạt 112,5% so kế hoạch vụ và bằng 98,6% so cùng kỳ; diện tích bắp 5.275,2 ha, bằng 87,9% so kế hoạch vụ và bằng 94,7% so cùng kỳ; diện tích cây chất bột 2.614,5 ha, trong đó cây mỳ 2.055,1 ha, đạt 158,1% so kế hoạch vụ và bằng 61,1% so cùng kỳ; diện tích rau các loại 2.522,9 ha, bằng 100,9% kế hoạch vụ và bằng 100,7% so cùng kỳ; diện tích đậu các loại 2.843 ha, bằng 81,2% so kế hoạch vụ và bằng 83,3% so cùng kỳ; diện tích cây công nghiệp ngắn ngày 3.133,7 ha, đạt 127,9% so kế hoạch vụ và bằng 128,3% so cùng kỳ, trong đó cây đậu phụng đạt 1.972,5 ha, cây mè đạt 445 ha.

* Kết quả diện tích gieo trồng một số cây hàng năm khác (cả năm) như sau:

- Diện tích cây lương thực có hạt là 141.219 ha, bằng 99,1% so năm trước, sản lượng lương thực đạt 808.678,6 tấn, bằng 97,1% so năm trước. Trong đó: Lúa, diện tích đạt 125.207,3 ha, tăng 0,82% so năm trước, sản lượng đạt 705.369,3 tấn, bằng 98,26% so năm trước. Cây bắp, diện tích đạt 16.011,7 ha, bằng 87,2% so năm trước, sản lượng ước đạt 103.309,3 tấn, bằng 90,2% so năm trước.

- Diện tích cây chất bột sơ bộ 26.849,1 ha, bằng 92,1% so năm trước. Diện tích cây chất bột chủ yếu là cây mỳ với diện tích 25.713,1 ha, đạt 91,2% năm trước. Diện tích mỳ được trồng nhiều nhất ở các huyện Hàm Tân: 11.488 ha, Hàm Thuận Nam: 6.100 ha, Bắc Bình: 4.575 ha.

- Diện tích cây mía sơ bộ đạt 1.299,2 ha, bằng 58% so năm trước. Diện tích mía được trồng nhiều ở huyện Hàm Tân.

- Diện tích cây có hạt chứa dầu đạt 10.073,2 ha, bằng 89% so năm trước. Trong đó: Cây đậu phộng, diện tích sơ bộ đạt 5.243,7 ha, tăng 0,4% so năm trước; Cây mè, diện tích đạt 4.825,5 ha, bằng 79,2% so năm trước.

- Diện tích cây rau, đậu, hoa các loại đạt 16.582,8 ha, bằng 80,5% so năm trước. Trong đó: Rau các loại đạt 7.929,1 ha, bằng 90,8% so năm trước; Đậu các loại đạt 8.605,7 ha, bằng 72,8% so năm trước.

- Cây gia vị dược liệu hàng năm diện tích sơ bộ 418 ha, bằng 117,9% so năm trước. Trong đó: Ớt đạt 339,8 ha, tăng 6,8% so năm trước được trồng nhiều ở Tuy Phong và Bắc Bình.

- Cây hàng năm khác diện tích sơ bộ đạt là 1.112,1 ha, bằng 112,8% so năm trước, chủ yếu tăng ở diện tích trồng cỏ phục vụ cho chăn nuôi, diện tích trồng cỏ đạt 879,1 ha, bằng 117,8% so năm trước.

Dự ước năm 2018 diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 197.678,3 ha, bằng 100,9% so kế hoạch năm, bằng 95,4% so năm trước, giảm 10.036,9 ha tập trung ở một số loại cây như: bắp giảm 2.343,1 ha, mì giảm 2.479,5 ha, mía giảm 941,8 ha, mè giảm 1.265,2 ha, rau các loại giảm 739,7 ha, đậu các loại giảm 3.214,7 ha.

* Cây lâu năm:

Trong năm 2018, các loại cây lâu năm phát triển khá ổn định. Tuy nhiên, thị trường tiêu thụ, giá sản phẩm đầu ra một số cây như cao su, tiêu ở mức thấp đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất và phát triển diện tích cây lâu năm. Tổng diện tích cây lâu năm năm 2018 đạt 106.195,7 ha, tăng 1,8% so cùng kỳ (+1.874,4 ha), trong đó: diện tích cây công nghiệp 63.703,8 ha tăng 0,11% so cùng kỳ (+ 73,1 ha); cây ăn quả đạt 40.827,9 ha tăng 4,57% so cùng kỳ (+ 1.783,5 ha); cây lâu năm khác còn lại 1.664,1 ha tăng 1,09% so cùng kỳ (+17,9 ha).

- Thanh long: Tổng diện tích toàn tỉnh năm 2018 đạt 29.271,9 ha, tăng 5,45% so cùng kỳ. Do từ đầu năm đến nay giá thanh long nhìn chung ổn định, ở các địa phương nhà vườn đang tiếp tục phát triển diện tích. Theo số liệu điều tra diện tích năm 2018 thì Phan Thiết (+19,5 ha), La Gi (+ 9 ha), Tuy Phong (+ 86 ha), Bắc Bình (+ 1.019 ha), Hàm Thuận Bắc (+ 20 ha), Hàm Thuận Nam (+ 124 ha), Tánh Linh (+ 3 ha), Hàm Tân (+ 233,5 ha). Riêng huyện Đức Linh và huyện Phú Quý diện tích không tăng,... Sản lượng thanh long sơ bộ đạt 591.964,9 tấn tăng 9,57% (+ 51.713 tấn). Đến thời điểm 12 năm 2018 toàn tỉnh có 10.146,90 ha thanh long đạt chuẩn VietGAP, trong đó: Hàm Thuận Nam 5.971,17 ha, Hàm Thuận Bắc 3.522,95 ha, Bắc Bình 337,04 ha, Hàm Tân 111,11 ha, La Gi 104,80 ha, Phan Thiết 99,83 ha.

- Cây điều: Tổng diện tích toàn tỉnh ước đạt 17.583,3 ha, tăng 3,11% so cùng kỳ (+530,8 ha). Sản lượng ước đạt 10.663,9 tấn tăng 10,51% so cùng kỳ (+1.013.97 tấn), do năm nay tình hình thời tiết khá thuận lợi so cùng kỳ năm ngoái bị mất mùa.

- Cao su: Tổng diện tích toàn tỉnh ước đạt 42.355,7 ha, giảm 0,81% so cùng kỳ (-344,5 ha). Sản lượng thu hoạch ước đạt 55.713,27 tấn tăng 7,26% so cùng kỳ (+3.770,37 tấn). Hiện giá mủ cao su chưa có nhiều chuyển biến tích cực, diện tích dự kiến trong thời gian đến tăng chậm.

- Cây tiêu: Tổng diện tích toàn tỉnh ước đạt 1.514,6 ha, giảm 10,9% so cùng kỳ (-185,2 ha). Sản lượng thu hoạch ước đạt 1.894,7 tấn tăng 4,86% so cùng kỳ (+87,75 tấn).

- Cây cà phê: Tổng diện tích toàn tỉnh đạt 2.236 ha, tăng 3,33% so cùng kỳ (+ 72 ha), tập trung chủ yếu ở các miền núi xã giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng của các huyện Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh và Đức Linh. Sản lượng thu hoạch sơ bộ đạt 2.639,5 tấn, tăng 8,22% so cùng kỳ (+ 200,5 tấn).

- Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể,…

* Tình hình dịch bệnh trên cây trồng:

- Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm trong kỳ 999 ha, giảm 528 ha so cùng kỳ năm trước. Bệnh bạc lá gây hại 675 ha, giảm 144 ha so cùng kỳ năm 2017. Bệnh đen lép hạt lúa gây hại 598 ha, giảm 427 ha so cùng kỳ năm trước. Rầy nâu gây hại 786 ha, giảm 1.208 ha so cùng kỳ năm trước. Sâu cuốn lá gây hại 341 ha, giảm 51 ha so cùng kỳ năm trước. Sâu đục thân gây hại giai đoạn đẻ nhánh 233 ha, tăng 139 ha, sâu đục thân gây hại giai đoạn đòng - trổ (bông bạc) 147 ha, tăng 138 ha so cùng kỳ năm trước. Các đối tượng khác gây hại rãi rác không đáng kể.

- Cây thanh long: Trong kỳ thời tiết nắng nóng trong mùa khô, diện tích nhiễm trong kỳ 3.392 ha, giảm 1.323 ha so cùng kỳ năm 2017. Diện tích nhiễm nhẹ 3.113 ha (tỉ lệ 5-10 %), nhiễm trung bình tỉ lệ 10 - 20% là 153 ha. Các đối tượng khác gây hại không đáng kể.

- Cây mì (sắn): Tình hình bệnh khảm lá virus: diện tích nhiễm 90,5 ha chưa được tiêu hủy. Cụ thể: Huyện Bắc Bình: diện tích nhiễm 75 ha, giảm 9 ha so kỳ trước (đã tiêu hủy 9 ha, gồm 3 xã Sông Bình, Bình Tân, Sông Lũy, tỉ lệ nhiễm bệnh 80-100%); Huyện Hàm Tân diện tích nhiễm 15,5 ha, giảm 1,5 ha (đã tiêu hủy, trong đó 13 ha nhiễm nặng tỉ lệ 100%, 2,5 ha nhiễm nhẹ tỉ lệ 5-10 %).

* Công tác thủy lợi phục vụ sản xuất:

Đã tập tập trung triển khai các biện pháp quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn nước hiện có. Tính đến ngày 10/12/2018, tổng diện tích gieo trồng vụ mùa 2018 được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện trên toàn tỉnh 48.180,7 ha, đạt 97,8% so kế hoạch, trong đó: cây lúa và cây màu 30.152,7 ha đạt 96,5% so kế hoạch; cây thanh long 18.027,9 ha, đạt 100% so kế hoạch.

Hiện tổng lượng nước trữ trong các công trình thủy lợi trên toàn tỉnh khoảng 230,52 triệu m3/258,99 triệu m3 dung tích hữu ích thiết kế, đạt 89%. Công ty Khai thác công trình thủy lợi phối hợp với các địa phương tăng cường công tác quản lý nguồn nước trong các hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh; phân phối nguồn nước theo thứ tự ưu tiên: nước sinh hoạt, nước uống cho gia súc - gia cầm, tưới cho cây trồng lâu năm, xây dựng phương án cấp nước sản xuất vụ Đông Xuân 2018 - 2019.

2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp có kiểm soát an toàn dịch bệnh và môi trường. Tại thời điểm 15/12/2018, số lượng gia súc, gia cầm toàn tỉnh như sau:

- Đàn trâu, bò: Có 8.974 con trâu, tăng 0,06% so cùng kỳ; đàn bò 166.894 con, tăng 1,92% so cùng kỳ. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục duy trì và phát triển, tạo thu nhập ổn định cho nhiều hộ nông thôn.

- Đàn lợn: Có 278,71 ngàn con tăng 4,88% so cùng kỳ. Đàn lợn của tỉnh được phục hồi do giá thịt lợn hơi trên thị trường tăng và có khuynh hướng ổn định trong những tháng gần đây, hiện nhiều đơn vị chăn nuôi tập trung mở rộng phát triển tổng đàn. So cùng kỳ đã phát triển thêm 02 doanh nghiệp và 04 trang trại chăn nuôi với số lượng tổng đàn 36.600 con tập trung ở Hàm Thuận Nam (02 doanh nghiệp, 02 trang trại) và Hàm Tân (02 trang trại).

- Đàn gia cầm: Đàn gia cầm phát triển khá thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra. Toàn tỉnh có 3.543 ngàn con tăng 5,13% so cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do giá đầu ra các loại gia cầm ổn định, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện khuyến khích người chăn nuôi mở rộng phát triển tổng đàn; một phần do các trang trại nuôi gà và chim cút đang đầu tư mới ở Hàm Tân và Hàm Thuận Bắc (01 trang trại gà với quy mô 80 ngàn con và 04 trang trại chim cút với quy mô 120 ngàn con).

* Công tác phòng, chống dịch:

Trong năm đã tập trung chỉ đạo triển khai chặt chẽ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; các bệnh truyền nhiễm thông thường trên động vật chỉ xảy ra lẻ tẻ, không phát triển thành dịch.

- Công tác tiêm phòng: trong tháng 12, đã tổ chức tiêm phòng 1.258.131 liều vắc xin, lũy kế cả năm 2018 đạt 16.167.473 liều. Trong đó: đàn trâu, bò 53.606 liều, lũy kế cả năm 120.663 liều; đàn heo 66.234 liều, lũy kế cả năm 811.229 liều; đàn gia cầm 1.135.330 liều, lũy kế cả năm 15.164.139 liều.

- Kiểm dịch động vật: trong tháng ngành thú y tỉnh đã bố trí các kiểm dịch viên tại các địa phương tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kết quả đã kiểm dịch: đàn heo 103.380 con, lũy kế cả năm 1.442.712 con; đàn trâu, bò 4.284 con, lũy kế cả năm đạt 16.358 con; gia cầm 275.040 con, lũy kế cả năm đạt 2.850.996 con; dê 3.060 con, lũy kế cả năm đạt 6.010 con.

- Kiểm soát giết mổ: Đã thực hiện kiểm soát giết mổ bò 50 con, lũy kế cả năm đạt 24.622 con; dê 349 con, lũy kế cả năm đạt 3.786 con; gia cầm 9.905 con, lũy kế cả năm đạt 87.022 con.

3. Lâm nghiệp

Trồng rừng: Tình hình thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng, đến thời điểm 10/12/2018 các đơn vị trồng rừng đã trồng được 3.626 ha, tăng 5,1% so cùng kỳ. Trong đó, có 3.497,8 ha rừng sản xuất; 88,2 ha rừng phòng hộ; cơ cấu cây trồng tập trung chủ yếu là keo lai, keo lá liềm, bạch đàn, phi lao.

Khai thác gỗ đạt 235.915 m³ (giảm 2,18% so năm trước); khai thác củi 280.000 ster (giảm 0,21% so năm trước).

Quản lý, bảo vệ rừng: Đã tập trung triển khai thực hiện kế hoạch của tỉnh về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; tăng cường quản lý, bảo vệ rừng tận gốc, nhất là rừng đầu nguồn, phòng hộ, đặc dụng; chú trọng kiểm tra, truy quét chống phá rừng tại các điểm nóng và vùng giáp ranh với các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng. Tính đến thời điểm 10/12/2018, toàn tỉnh thành lập 13 ban chỉ huy PCCR huyện, 107 ban chỉ huy PCCR xã, 483 tổ, đội PCCR ở các địa phương; xây dựng 1.305,9 km đường băng cản lửa (trong đó 43 đường băng xanh và 1.262,9 đường băng trắng), 07 chòi canh lửa; trang bị 124 máy móc, 2.553 dụng cụ thủ công, sẵn sàng ứng phó khi có tình huấn cháy khẩn cấp xảy ra. Từ đầu năm đến nay (10/12/2018) xảy ra 25 trường hợp cháy dưới tán rừng với diện tích 57,82 ha, tăng 02 trường hợp/31,04 ha so cùng kỳ; các vụ cháy chủ yếu cháy trảng cỏ, cây bụi, lá khô dưới tán rừng được huy động chữa cháy kịp thời nên không gây hại về tài nguyên rừng.

Trong tháng 12 không xảy ra vụ phá rừng, thống kê quý 4/2018 trên địa bàn có 04 vụ  phá rừng, lũy kế cả năm năm 2018 (từ 01/01 đến ngày 10/12/2018) đã xảy ra 17 vụ phá rừng với diện tích 11,4 ha. Tình hình phá rừng tập trung khai thác vận chuyển gỗ trái phép ở các vùng trọng điểm giáp ranh giữa Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc với huyện Đức Trọng, Di Linh tỉnh Lâm Đồng và khu vực nội tỉnh, nhất là địa bàn huyện Tánh Linh, Hàm Tân vẫn diễn biến phức tạp.

Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng 12/2018 là 25 vụ, trong đó: vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác 05 vụ, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 09 vụ, vi phạm khác 11 vụ. Luỹ kế cả năm năm 2018 (từ 01/01 đến ngày 10/12/2018) 431 vụ, trong đó; phá rừng trái phép 17 vụ, khai thác gỗ và lâm sản khác 74 vụ, mua bán động vận hoang dã 05 vụ, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 142 vụ, chế biến gỗ và lâm sản khác 07 vụ, vi phạm khác 186 vụ.

Tổng số vụ vi phạm đã xử lý trong tháng 12/2018 là 23 vụ (chủ yếu là xử phạt hành chính), tịch thu: 05 xe máy, 03 phương tiện khác; 33,7 m3 gỗ các loại. Tổng số tiền phạt, bán tang vật nộp vào ngân sách trong tháng 12/2018 là 164,8 triệu đồng. Lũy kế cả năm (từ 01/01 đến ngày 10/12/2018) đã xử lý 382 vụ (trong đó: 375 vụ vi phạm hành chính và 07 vụ vi phạm hình sự), tịch thu: 537 m3 gỗ các loại (gỗ tròn 239,6 m3, gỗ xẻ 297,4 m3), về phương tiện: ô tô, máy kéo 06 chiếc, xe máy 137 chiếc và 75 phương tiện khác. Tổng các khoản thu và nộp ngân sách 4,6 tỷ đồng.

4. Thuỷ sản

Trong năm tuy có ảnh hưởng một số cơn áp thấp và bão nhưng tình hình khai thác biển nhìn chung ổn định. Sản lượng khai thác thuỷ sản năm 2018 ước đạt 217,77 ngàn tấn (tăng 3,5% so năm trước); trong đó: khai thác biển ước đạt 217,1 ngàn tấn (tăng 3,4% so năm trước); khai thác nội địa ước đạt 669,4 tấn, (tăng 2,7% so cùng kỳ).

Tổng số tàu hiện có đến thời điểm 01/11/2018 có 7.049 chiếc. Trong đó tàu khai thác thủy sản 6.884 chiếc giảm 0,3% so cùng kỳ (chủ yếu giảm ở những tàu có công suất nhỏ dưới 50 CV). Số lượng tàu có công suất từ 250 CV đến dưới 400 CV tăng 0,7%; nhóm công suất trên 400 CV tăng 19,2% so cùng kỳ.

Nuôi trồng thủy sản: Trong năm không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra, điều kiện môi trường tương đối thuận lợi nên bắt đầu thả nuôi ở các khu vực Vĩnh Tân, Hòa Minh, Phước Thể,... Diện tích thuỷ sản thu hoạch tháng 12 ước đạt 270,1 ha tăng 1,6% so cùng kỳ; luỹ kế cả năm ước đạt 2.962,3 ha tăng 2,1% so cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch tháng 12 ước đạt 1.248,3 tấn tăng 1,3% so cùng kỳ; luỹ kế cả năm ước đạt 13.889,9 tấn tăng 2,4% so cùng kỳ năm trước.

Sản xuất giống thuỷ sản: Các cơ sở ươm nuôi, sản xuất tôm giống vẫn duy trì đảm bảo cung cấp cho nhu cầu nuôi tôm trong tỉnh và đặc biệt là thị trường các tỉnh phía Nam. Sản xuất tôm giống trong tháng 12 ước đạt 1,6 tỷ con tăng 10,3% so cùng kỳ, lũy kế cả năm ước đạt 23,7 tỷ con giảm 2% so cùng kỳ.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản luôn được triển khai thường xuyên. Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền để nâng cao ý thức trách nhiệm của ngư dân bảo vệ môi trường biển, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; tăng cường kiểm tra giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm khi sử dụng các biện pháp khai thác mang tính huỷ diệt nguồn lợi như giã cào, xung điện, chất nổ,... Số vụ vi phạm trong tháng (tính từ ngày 01/12 đến ngày 10/12/2018) xảy ra 14 vụ, cụ thể: Sử dụng ngư cụ cấm 02 vụ, không có giấy phép khai thác thủy sản 02 vụ, tàng trữ công cụ kích điện 01 vụ, không mang theo giấy chứng nhận an toàn tàu cá 02 vụ, sử dụng giấy ân toàn tàu cá quá hạn 01 vụ, hành nghề giã cào bay sai vùng khai thác 02 vụ, khai thác sò lông không đúng kích cỡ 04 vụ. Lũy kế cả năm xảy ra 584 vụ (trong đó, cản trở công tác bảo vệ nguồn lợi 01 vụ, đóng mới tàu cá trái phép 01 vụ, hành nghề giã cào bay sai vùng khai thác 38 vụ, hành nghề giã cào đáy sai vùng khai thác 16 vụ, hành nghề giã cào bay trong thời gian cấm khai thác 16 vụ, khai thác sò lông nhỏ và trong thời gian cấm 23 vụ, hành nghề lặn trái phép 79 vụ, không bằng máy trưởng, thuyền trưởng 15 vụ, không giấy phép khai thác thủy sản 03 vụ, không đăng ký tàu cá 01 vụ, không đăng kiểm lại tàu cá theo quy định 39 vụ, tàng trữ công cụ kích điện trên tàu cá 18 vụ, sử dụng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ 136 vụ, sử dụng ngư cụ cấm để khai thác thủy sản 73 vụ,...).

Thực hiện Chỉ thị số 45/CT-TTg, ngày 13/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định và Chỉ thị số 30-CT/TU của Tỉnh ủy Bình Thuận, từ tháng 4/2018 đến nay, không xảy ra tình trạng tàu cá của tỉnh vi phạm vùng biển nước ngoài.

* Chương trình xây dựng nông thôn: Các Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển nông thôn tiếp tục được thực hiện; củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Qua kết quả thẩm định hồ sơ và mức độ đạt tiêu chí xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018 đến cuối năm có 07 xã được công nhận đạt nông thôn mới và không để xảy ra nợ đọng xây dựng cơ bản; nâng tổng số xã được công nhận đến nay là 56 xã.

Nhìn chung, trong năm 2018, tình hình sản xuất nông nghiệp tương đối thuận lợi. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định do không bị ảnh hưởng bởi thời tiết và dịch bệnh, đảm bảo nguồn cung đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người dân trong tỉnh. Tình hình thời tiết tuy bị ảnh hưởng cơn bão số 9, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến nuôi trồng và ngư trường khai thác thuỷ sản; sản xuất giống thuỷ sản và chất lượng con giống được đảm bảo, nuôi trồng thuỷ sản có nhiều dấu hiệu tích cực; tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi từ đầu năm đến nay tương đối ổn định không có dịch bệnh xảy ra.

II. Công nghiệp; đầu tư phát triển; đăng ký kinh doanh; đăng ký đầu tư

1. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2018 ước giảm 21,61% so tháng trước và tăng 19,60% so năm trước; trong đó, ngành khai khoáng giảm 9,54%; ngành chế biến, chế tạo tăng 4,66%; sản xuất và phân phối điện giảm 34,88%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,56%.

Tính chung cả năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 19,75% so năm trước (quý I tăng 7,48%; quý II tăng 6,44; quý III tăng 39,83%; quý IV ước tính tăng 26,80%). Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện duy trì tốc độ tăng trưởng cao 33,34%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,26%; ngành khai khoáng tăng 2,41% và ngành chế biến, chế tạo tăng 1,62%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so năm trước gồm: Cát sỏi các loại (tăng 5,24%), đá khai thác (tăng 3,85%), muối hạt (tăng 7,92%), thủy sản đông lạnh (tăng 6,70%), thủy sản khô (tăng 9,21%), nước mắm (tăng 0,92%), hạt điều nhân (tăng 1,73%), nước khoáng (tăng 4,67%), quần áo may sẵn (tăng 9,02%), gạch các loại (tăng 1,50%), nước máy sản xuất (tăng 4,52%), điện (tăng 38,01%), sơ chế mủ cao su (tăng 2,37%), giày dép các loại (tăng 42,47%). Sản phẩm giảm gồm: Đồ gỗ và các sản phẩm gỗ (giảm 3,37%), thức ăn gia súc (giảm 2,05%).

Nhìn chung, trong năm 2018 sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển, đạt mức tăng trưởng khá so năm 2017. Tính chung cả năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 19,75% so năm trước; trong đó, nổi bậc là ngành sản xuất và phân phối điện duy trì tốc độ tăng trưởng cao với 33,34%; Một số sản phẩm như: Điện, giày dép các loại, thủy sản khô, quần áo may sẵn... tăng khá. Riêng hoạt động của ngành công nghiệp khai khoáng đang phục hồi sau thời gian dài gặp khó khăn, giá trị và sản lượng các sản phẩm chủ yếu như: Cát sỏi các loại, đá khai thác, muối đều tăng so năm trước.

2. Đầu tư phát triển

Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện thuộc vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 249,1 tỷ đồng. Dự ước cả năm 2018 đạt 2.440,8 tỷ đồng (tăng 76,48% so năm trước); trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 1.777,4 tỷ đồng (tăng 75,59%), vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 583,6 tỷ đồng (tăng 98,01%) và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 79,8 tỷ đồng (tăng 4,95% so năm trước).

* Tình hình triển khai các dự án trọng điểm năm 2018: Theo Nghị quyết số 41/2017/NQ-HĐND ngày 15/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch đầu tư công và danh mục các dự án trọng điểm của tỉnh năm 2018. Kết quả triển khai thực hiện các công trình, dự án trọng điểm đến cuối tháng 11/2018 như sau:

- Dự án Kênh tiếp nước Biển Lạc - Hàm Tân: Tổng mức đầu tư là 377 tỷ đồng, đầu tư từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh. Kế hoạch vốn năm 2018: 40 tỷ đồng (nguồn vốn ngân sách tỉnh). Khối lượng thực hiện từ đầu năm 2018 đến tháng 11 là 28,8 tỷ đồng, giải ngân 2,49 tỷ đồng; luỹ kế giá trị khối lượng thực hiện từ khởi công đến tháng 11 là 269,7 tỷ đồng, giải ngân 242,7 tỷ đồng.

- Dự án phòng chống lũ lụt, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu gắn với cải tạo môi trường sông Cà Ty: Hiện nay, dự án đang được UBND tỉnh xem xét phê duyệt chủ trương đầu tư. Kế hoạch 2018 chưa bố trí vốn.

- Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đảo Phú Quý: Tổng mức đầu tư dự án là 544,693 tỷ đồng, kế hoạch 2018 ngân sách trung ương bố trí 273,756 tỷ đồng. Tổng diện tích thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là 72.837.6 m2, đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 06 đợt với kinh phí bồi thường 7,724 tỷ đồng. Giá trị khối lượng xây lắp thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 91,0 tỷ đồng, luỹ kế giá trị khối lượng xây lắp từ khi khởi công là 210,1 tỷ đồng.  Giải ngân từ đầu năm đến tháng 11 là 112,8 tỷ đồng, luỹ kế giải ngân từ đầu dự án là 235,3 tỷ đồng.

- Dự án đường Lê Duẩn đoạn từ đường Trường Chinh đến đường Lê Hồng Phong: Tổng mức đầu tư là 417 tỷ đồng, đầu tư từ nguồn vốn ngân sách tập trung tỉnh và nguồn vốn xổ số kiến thiết. Kế hoạch vốn năm 2018: 30 tỷ đồng (nguồn vốn Xổ số kiến thiết). Khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 29,3 tỷ đồng, luỹ kế giá trị khối lượng thực hiện từ khởi công là 232,7 tỷ đồng. Giải ngân từ đầu năm đến tháng 11 là 26,1 tỷ đồng; luỹ kế giá trị giải ngân từ khởi công là 230,2 tỷ đồng.

Đã nghiệm thu và bàn giao đưa vào sử dụng công viên 1-6, đoạn đường Trần Phú nối ra đường Lê Duẩn và hệ thống đèn tín hiệu điều khiển giao thông tại ngã tư giao với QL1A, hệ thống điện chiếu sáng (đoạn từ đường Trường Chinh đến đường Nguyễn Hội).

- Đường Hùng Vương (đoạn từ vòng xoay đại lộ Tôn Đức Thắng đến giáp cầu Hùng Vương):

+ Đoạn qua khu dân cư Hùng Vương II (đoạn 1): Chiều dài tuyến đường là 888,9 m, tổng mức đầu tư 62,2 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 3,587 tỷ đồng (nguồn vốn ngân sách tỉnh). Khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 1,2 tỷ đồng, luỹ kế giá trị khối lượng thực hiện từ khởi công là 48,7 tỷ đồng.

+ Đoạn qua khu dân cư Hùng Vương II, giai đoạn 2B (đoạn 3): Chiều dài tuyến đường 366 m, tổng mức đầu tư là 34,1 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 12,3 tỷ đồng (nguồn vốn ngân sách tỉnh). Khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 9,1 tỷ đồng, luỹ kế khối lượng thực hiện từ khởi công là 18,9 tỷ đồng. Giải ngân từ đầu năm đến tháng 11 là 12,1 tỷ đồng, luỹ kế giá trị giải ngân từ khởi công là 18,9 tỷ đồng. Công trình đang hoàn tất thủ tục thực hiện nghiệm thu.

- Đường từ Cầu Hùng Vương đến đường ĐT 706B: Tổng mức đầu tư 285,994 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 65 tỷ đồng (vốn ngân sách tỉnh 60 tỷ và nguồn vốn xổ số kiến thiết 5 tỷ). Khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 49,9 tỷ đồng, luỹ kế khối lượng thực hiện từ khởi công là 140,6 tỷ đồng. Giải ngân từ đầu năm đến tháng 11 là 74,7 tỷ đồng, luỹ kế giá trị giải ngân từ khởi công là 140,5 tỷ đồng.

- Dự án đường Lê Duẩn đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo: Tổng mức đầu tư: 243,873 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 212 tỷ đồng (nguồn vốn ngân sách tỉnh 70 tỷ đồng, nguồn vốn xổ số kiến thiết 60 tỷ đồng, nguồn vượt thu tiền sử dụng đất năm 2018 là 82,0 tỷ đồng). Dự án đang được đề xuất điều chỉnh, bổ sung nguồn vốn với tổng mức đầu tư dự kiến là 314,4 tỷ đồng. Khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng 11 là 186,8 tỷ đồng, luỹ kế khối lượng thực hiện từ khởi công là 207 tỷ đồng.

- Dự án mở rộng đường từ Đá Ông Địa đến khu du lịch Hoàng Ngọc: Tổng chiều dài 6.009 m, chiều rộng mặt đường 09 m, kinh phí đầu tư là 97,096 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 20 tỷ đồng (nguồn vốn xổ số kiến thiết). Tổng mức đầu tư dự án dự kiến tăng từ 111,4 tỷ đồng lên thành 169,8 tỷ đồng. Đã bố trí cho dự án 29,25 tỷ đồng. Hiện nay, các ngành chức năng đang tiến hành kiểm kê áp giá đền bù đất, vật kiến trúc nằm trong phạm vi công trình.

- Sân bay Phan Thiết: Dự án có tổng diện tích 542 hecta, tổng mức đầu tư là 1.694 tỷ đồng, triển khai hạng mục chính gồm: Hạng mục hàng không dân dụng và hạng mục sân bay quân sự. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng: Tổng diện tích thu hồi thực hiện dự án là 543 ha với 48 hộ và 06 tổ chức.

Kết quả thực hiện: Đã cơ bản thực hiện xong và bàn giao toàn bộ mặt bằng 542 ha. Kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng: Tổng kinh phí đã phê duyệt là 191,5 tỷ đồng (UBND tỉnh Bình Thuận chi trả 23,1 tỷ đồng, Bộ Quốc phòng chi trả 168,4 tỷ đồng).

- Nhà hát và triển lãm văn hoá nghệ thuật tỉnh Bình Thuận: Tổng mức đầu tư là 200 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: 27 tỷ đồng (nguồn vốn xổ số kiến thiết). Đã giải ngân 929 triệu đồng (tạm ứng hợp đồng quản lý dự án).

Nhìn chung, tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn năm 2018 các công trình trọng điểm theo Nghị quyết số 41/2017/NQ-HĐND ngày 15/12/2017 đạt khá. Công tác đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng có nhiều cố gắng. Đã tập trung hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng Cảng hàng không Phan Thiết, đôn đốc tiến độ xây dựng Cảng tổng hợp Vĩnh Tân. Riêng các dự án thuộc lĩnh vực thủy lợi đê, kè, biển tỷ lệ giải ngân còn thấp so kế hoạch vốn bố trí. Một số công trình thuộc nhóm giao thông vẫn còn vướng đền bù, giải phóng mặt bằng, Chủ đầu tư đang phối hợp với địa phương tập trung xem xét tính pháp lý đất đai, tài sản, điều kiện tái định cư phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

3. Đăng ký kinh doanh

Trong năm đã cấp đăng ký mới 1.271 doanh nghiệp (bao gồm các chi nhánh, văn phòng đại diện, điểm kinh doanh), tăng 9,1% so cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký 14.547 tỷ đồng, đạt 85,91% so cùng kỳ; giải thể 276 doanh nghiệp, tăng 58,62% so cùng kỳ; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động 112, giảm 8,94% so cùng kỳ; đăng ký thay đổi 347 trường hợp, so cùng kỳ đạt 143,98%.

4. Đăng ký đầu tư

Tình hình cấp phép đầu tư: Trong năm, có 151 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư (trong đó cấp mới 114 dự án, cấp điều chỉnh 37 dự án), với tổng vốn đăng ký 34.676 tỷ đồng, chiếm diện tích khoảng 3.786 ha; Tổ chức rà soát các dự án chậm triển khai trên các lĩnh vực, kiến nghị thu hồi 33 dự án (trong đó nông lâm 12 dự án, du lịch 17 dự án, công nghiệp 03 dự án, thương mại dịch vụ 01 dự án).

Công tác hỗ trợ doanh nghiệp: đã tổ chức Hội nghị trực tuyến “Cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”; tổ chức tỉnh Hội nghị “Lãnh đạo tỉnh gặp mặt doanh nghiệp năm 2018” để trao đổi, đối thoại với Doanh nghiệp, nhằm tháo gỡ khó khăn cho Doanh nghiệp. Thông qua các kiến nghị của doanh nghiệp phát biểu tại các Hội nghị, kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Phối hợp với Văn phòng VCCI tại Bình Thuận xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện “Bản cam kết giữa UBND tỉnh với VCCI về việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp”.

III. Thương mại, giá cả; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải

1. Thương mại, Giá cả

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2018 ước đạt 4.774,3 tỷ đồng, tăng 1,12% so tháng trước và tăng 10,89% so tháng cùng kỳ năm trước. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 3.117 tỷ đồng, tăng 0,91% so tháng trước và tăng 10,29% so tháng cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ước đạt 515,7 tỷ đồng, tăng 0,83% so tháng trước và tăng 12,79% so tháng cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú - ăn uống ước đạt 1.141,5 tỷ đồng, tăng 1,83% so tháng trước và tăng 11,71% so tháng cùng kỳ năm trước.

- Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm 2018 đạt 52.032,7 tỷ đồng so cùng kỳ năm trước tăng 11,7%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 34.459,9 tỷ đồng, tăng 11,33% so cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ước đạt 5.647,31 tỷ đồng, tăng 12,88% so cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú - ăn uống ước đạt 11.925,4 tỷ đồng, tăng 12,24% so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động thương mại trong tháng 12 trên địa bàn tỉnh bắt đầu nhộn nhịp, đây là tháng có các hoạt động như lễ Noel và Tết Dương lịch. Các mặt hàng phục vụ đa dạng về mẫu mã và giá cả. Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh các doanh nghiệp, siêu thị, cửa hàng điện máy, trung tâm thương mại đưa ra nhiều chương trình khuyến mại kích thích người dân mua sắm,… Chính quyền địa phương cùng với các doanh nghiệp cũng đã lên kế hoạch dự trữ hàng hoá cuẩn bị Tết nguyên đán Kỷ Hợi. Các hộ kinh doanh cá thể đã chuẩn bị hàng hoá để phục vụ người tiêu dùng.

Trong quý IV năm 2018 tình hình thương mại trên địa bàn tỉnh có mức tăng trưởng cao so quý III năm 2018. Do biến động giảm về giá xăng dầu, tình hình lưu thông hàng hóa trong quý tương đối ổn định, không xảy ra tình trạng găm hàng, sốt giá gây đột biến thị trường,... Ngoài ra công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường thực hiện trong kinh doanh, các siêu thị giảm giá nhiều mặt hàng như các mặt hàng thực phẩm, quần áo may sẵn, đồ gia dụng,… Vì vậy tình hình thương mại của tỉnh từng bước được đẩy mạnh, tích cực khai thác thị trường nội địa. Các chương trình xúc tiến đầu tư thương mại được thực hiện như về quảng bá mở rộng các thị trường tiêu dùng và xuất khẩu, nhằm làm tăng mức độ giao thương các thị trường trong tỉnh, các vùng lân cận và tăng giá trị xuất khẩu.

Nhìn chung, trong năm 2018 tình hình thương mại trên địa bàn Bình Thuận tương đối ổn định, có mức tăng trưởng khá so năm trước. Mục tiêu từ đầu năm đến nay vẫn là phấn đấu tăng truởng, hạn chế lạm phát ở mức tối đa, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Tăng cường nâng cao chất luợng của một số mặt hàng xuất khẩu nhằm mở rộng thâm nhập vào một số thị truờng khó tính, nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu. Từng bước đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong năm tăng khá.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 so tháng trước tăng 0,18%; so tháng cùng kỳ năm trước (sau 01 năm) tăng 2,34%; bình quân 12 tháng năm 2018 tăng 3,41% so bình quân 12 tháng năm 2017. Sau 12 tháng (so tháng 12/2017) chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,34%; trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,84%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,64%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 3,74%; nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,88%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,77%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,33%; giáo dục tăng 1,9%; văn hoá giải trí và du lịch tăng 0,34%; giao thông tăng 0,97%; bưu chính viễn thông tăng 1,26%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 3,26%.

* Một số yếu tố tác động làm tăng CPI năm 2018

- Tác động do các chính sách:

+ Trong tháng 7, áp dụng điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế quy định tại Thông tư số 15/2018/TT-BYT, ngày 30/5/2018 của bộ Y tế, theo đó Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/7/2018. Vì vậy, giá các mặt hàng dịch vụ y tế trong 9 tháng năm 2018 tăng 29,94% so bình quân cùng kỳ năm trước. Ngày 01/7/2018, điều chỉnh mức lương cơ sở từ 1,3 triệu đồng lên 1,39 triệu đồng. Do đó, tiền bảo hiểm y tế cho công chức và người lao động cũng được điều chỉnh tăng theo. Bên cạnh đó, giá một số loại dịch vụ như dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình có mức tăng giá khoảng từ 3% - 11% so cùng kỳ năm trước.

+ Để chuẩn bị khai giảng năm học mới 2018-2019 nên nhu cầu mua sắm quần áo, giầy dép, trang phục học sinh tăng cao, góp phần chỉ số giá may mặc, mũ nón, giày dép bình quân 9 tháng tăng 5,50%; Giá sách giá khoa tăng 2,37% do sách năm nay giá bán có phần tăng so cùng kỳ năm trước. Đồng thời nhóm học phí trường tư thục, trường dân lập, học phí cao đẳng có phần tăng trong tháng 9 làm cho chỉ số nhóm giáo giáo dục bình quân 9 tháng đầu năm 2018 tăng 4,6%.

+ Trong tháng 12, áp dụng điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BYT, ngày 30/11/2018 của bộ Y tế, theo đó Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2018.

+ Thực hiện theo Quyết định số 2032/QĐ-BĐVN, ngày 01/11/2018 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam về việc ban hành giá cước dịch vụ Bưu chính kinh doanh trong nước, có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/12/2018.

+ Giá vé tàu hỏa tăng 2,45% do Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá vé đón dịp Tết Dương lịch 2019.

- Tác động do yếu tố thị trường:

+ Các dịp Tết, Lễ 30/4 và 1/5 kéo dài nhiều ngày, Quốc tế thiếu nhi 1/6, Lễ hội Nghinh Ông của Người Hoa, Lễ 2/9, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Lễ Giáng sinh và Tết Dương lịch 2019 nên nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân tăng.

+ Giá các mặt hàng lương thực bình quân 12 tháng năm 2018 tăng 3,64% so cùng kỳ năm trước, tăng do giá gạo xuất khẩu sang các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippines, Indonexia gặp nhiều thuận lợi. Đồng thời do ảnh hưởng thời tiết mưa bão ảnh hưởng quá trình gieo trồng mùa vụ của bà con nông dân, sản lượng lúa không đủ cung ứng thị trường, các thương lái thu mua lúa gạo với giá cao làm cho nhóm lương thực tăng mạnh.

+ Thực phẩm bình quân 12 tháng năm 2018 tăng 1,79% so cùng kỳ năm trước, tăng ở hầu hết các mặt hàng. Nguyên nhân, do ảnh hưởng thời tiết, nguồn cung bị hạn chế, nhu cầu tiêu dùng tăng cao làm cho chỉ số nhóm thực phẩm tăng cao trong năm 2018.

+ Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết và dịp hè do nhu cầu tiêu dùng và mua sắm tăng, bình quân 12 tháng năm 2018 chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng khoảng 2,53% và 5,18% so cùng kỳ năm trước.

+ Giá gas sinh hoạt được điều chỉnh theo giá gas thế giới, tính từ đầu năm cho đến nay giá gas được điều chỉnh tăng 7 lần (tương đương tăng 63.000 đồng/bình 12 kg), giảm 4 lần (tương đương giảm 106.000 đồng/bình 12 kg) và 1 lần giữ nguyên giá.

+ Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong năm 2018 có sự biến động tăng, giảm khá mạnh. Trong nước giá xăng dầu cũng được điều chỉnh tăng, giảm góp phần tăng CPI nhóm giao thông tăng 8,49% so bình quân cùng kỳ năm trước.

* Một số yếu tố tác động làm giảm CPI năm 2018

Mặc dù nhóm thực phẩm bình quân cùng kỳ tăng, nhưng trong đó các mặt hàng thịt bò, gia cầm bình quân cùng kỳ giảm nhẹ. Do đó kéo theo nhóm ăn ngoài gia đình cũng giảm theo (-0,05%).

Nhón Bưu chính viễn thông bình quân cùng kỳ giảm (1,20%), giảm chủ yếu các mặt hàng điện thoại di động. Nguyên nhân, do hiện nay điện thoại thông minh được thường xuyên thay đổi mẫu mã liên tục, giá bán giảm theo từng ngày làm cho nhóm hàng biến động giảm theo so với cùng kỳ năm trước.

2. Du lịch

Hoạt động du lịch trong tháng 12 diễn ra khá tốt, và tiếp tục có sự phát triển dịch vụ từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, du khách đến càng nhiều thời gian lưu trú dài. Trong tháng 12 có nhiều sự kiện nghỉ lễ dài ngày, lượng khách trong nước đến sẽ tăng so tháng trước. Lượng khách quốc tế đến tỉnh có chiều hướng tăng so những tháng trước và cùng kỳ. Dự ước trong tháng 12/2018 đón và phục vụ 572,95 ngàn lượt khách, tăng 1,72% so tháng trước và tăng 11,22% so tháng cùng kỳ năm trước; số ngày khách phục vụ đạt 942,4 ngàn ngày khách tăng 1,96% so tháng trước và tăng 14,44% so tháng cùng kỳ năm trước. Dự ước cả năm 2018 đạt 5.752,11 ngàn lượt khách, tăng 12,08% so cùng kỳ năm trước; số ngày khách ước đạt 9.461,7 ngàn ngày khách, tăng 13,18% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch tháng 12/2018 ước đạt 1.116,3 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 19,49% so tháng cùng kỳ năm trước. Dự ước cả năm 2018 đạt 12.864,2 tỷ đồng, tăng 18,98% so cùng kỳ năm trước.

Trong quý IV tình hình du lịch khả quan hơn quý trước, lượng khách du lịch quốc tế so cùng kỳ năm trước tăng mạnh, đây là mùa cao điểm của khách quốc tế. Khách nội địa thường tập trung vào các ngày cuối tuần và thường đi theo các tour lớn với số lượng lớn. Các cơ sở kinh doanh du lịch tiếp tục nỗ lực thu hút khách du lịch từ các địa phương trong nước bằng nhiều hình thức thông qua các chương trình cầu du lịch và tạo sân chơi cho du khách, hầu hết các khu du lịch đều tung ra các gói sản phẩm khuyến mãi và quảng bá trên các phương tiện truyền thông. Để khuyến khích người dân đi tham quan, du lịch, thúc đẩy tăng trưởng về lượng khách và doanh thu du lịch, hiện nay nhiều đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch, lữ hành, nhà hàng, các khu, điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực hưởng ứng tham gia chương trình kích cầu du lịch 2019.

* Tình hình khách quốc tế: Số lượt khách quốc tế tháng 12/2018 ước đạt 60,76 ngàn lượt khách, tăng 3,49% so tháng trước và tăng 18,24% so tháng cùng kỳ năm trước. Số ngày khách quốc tế lưu trú ước đạt 198,67 ngàn ngày khách, tăng 3,67% so tháng trước và tăng 16,64% so tháng cùng kỳ năm trước. Trong tháng, lượt khách Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc là những quốc gia tiếp tục có tỷ lệ khách quốc tế dẫn đầu đến du lịch tại tỉnh. Tỷ trọng khách Nga chiếm 32,84%; Trung Quốc, chiếm 20,59%; Hàn Quốc chiếm 10,55%; Liên Bang Đức chiếm 5,99%; Anh Quốc chiếm 2,33%; Ba Lan chiếm 1,96%; Pháp chiếm 1,91%; Hà Lan chiếm 1,83; thị trường Đông Nam á, du khách Thái Lan chiếm 3,88%; Malaisia chiếm 2,84%.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch được triển khai trên nhiều mặt, đặc biệt là công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về kinh doanh lưu trú du lịch, lữ hành. Công tác đảm bảo an ninh trật tự, cứu hộ, an toàn du khách tại các khu, điểm du lịch được quan tâm. Các chương trình phục vụ du khách, nhất là khách quốc tế được các cơ sở lưu trú tích cực duy trì tổ chức và tạo được sự phong phú, hấp dẫn, sinh động để lại ấn tượng tốt đẹp cho du khách. Nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình tại các huyện, thị xã, thành phố được tăng cường, nhất là công tác kiểm tra, kiểm soát, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các vi phạm trong hoạt động quảng cáo rao vặt, hoạt động văn hóa gây tiếng ồn và đảm bảo an toàn, an ninh cho khách du lịch trên địa bàn tỉnh. Đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống từ nhà hàng, đến các quán ăn bình dân đều đảm bảo an toàn thực phẩm; công tác niêm yết giá được các cơ sở thực hiện nghiêm túc. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch luôn được tỉnh quan tâm chú trọng thực hiện.

Nhìn chung, năm 2018 hoạt động du lịch trên toàn tỉnh diễn ra khá tốt nhất là trong các dịp lễ, tết, chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch được các đơn vị kinh doanh du lịch quan tâm chú trọng và ngày càng chuyên nghiệp hơn. Tỉnh tiếp tục định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 25/10/2016 và kế hoạch số 66-KH/TU, ngày 07/7/2017 của Tỉnh ủy.

3. Xuất, nhập khẩu

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 12/2018 ước đạt 38,49 triệu USD, tăng 6,06% so tháng trước và tăng 5,23% so tháng cùng kỳ năm trước. Dự ước cả năm 2018 đạt 431,19, tăng 11,75% so cùng kỳ năm trước; trong đó: nhóm hàng thuỷ sản đạt 145,77 triệu USD (tăng 3,65%), hàng nông sản đạt 11,49 triệu USD (giảm 24,97%), hàng hoá khác 273,94 triệu USD (tăng 19,14%), trong đó hàng may mặc 170,21 triệu USD (tăng 12,88%). Sản lượng một số mặt hàng xuất khẩu như: cao su 1.342,9 tấn (giảm 51,2% so cùng kỳ); quả thanh long 6.860 tấn (tăng 53,02%); thuỷ sản 17.382 tấn (giảm 5,27%).

- Xuất khẩu trực tiếp năm 2018 đạt 411,68 triệu USD (tăng 12,52% so cùng kỳ năm trước), trong đó:

+ Xuất sang thị trường Châu Á ước đạt 264,44 triệu USD (tăng 11,54% so cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Đông Á đạt 245,26 triệu USD (tăng 14,67%), thị trường Đông Nam Á đạt 6,70 triệu USD (giảm 27,41%), thị trường Tây Á đạt 9,86 triệu USD (giảm 15,38%), thị trường Trung Nam Á đạt 2,61 (tăng 13,44% so cùng kỳ năm trước). Tăng chủ yếu ở thị trường Nhật Bản (tăng ở mặt hàng cá đông lạnh, bạch tuộc, giày dép, sản phẩm giấy khác, sản phẩm may mặc), Đài Loan (tăng ở mặt hàng bộ quần áo, giày dép, bạch tuộc), Thái Lan (tăng ở mặt hàng thanh long, mực tươi đông lạnh), Trung Quốc (tăng ở mặt hàng các loại khoáng sản khác, tôm thẻ), Pakixtan (tăng ở mặt hàng giày dép).

+ Xuất sang thị trường Châu Âu đạt 68,33 triệu USD (tăng 20,18% so cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Bắc Âu đạt 15,99 triệu USD (tăng 9,50%), thị trường Đông Âu đạt 2,01 triệu USD (tăng 76,42%), thị trường Nam Âu đạt 16,89 triệu USD (tăng 9,33%), thị trường Tây Âu đạt 33,44 triệu USD (tăng 30,27%). Tăng chủ yếu ở thị trường Anh (tăng ở mặt hàng tôm thẻ), Đức (tăng ở mặt hàng tôm thẻ, sản phẩm từ sắt thép), Hà Lan (tăng ở mặt hàng giày dép, tôm thẻ), Pháp (tăng ở mặt hàng mực tươi, tôm thẻ, hải sản).

+ Xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 72,49 triệu USD (tăng 12,15% so cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Bắc Mỹ đạt 60,78 triệu USD (tăng 11,97%), thị trường Trung Mỹ đạt 9,76 triệu USD (tăng 2,57%), thị trường Nam Mỹ đạt 1,94 triệu USD (tăng gấp 2,5 lần so cùng kỳ). Tăng chủ yếu ở thị trường Belizơ (mặt hàng đế giày và nguyên phụ liệu giày dép), thị trường Canada (tăng chủ yếu ở mặt hàng giày dép, thanh long), thị trường Mỹ (tăng chủ yếu ở mặt hàng giày dép các loại, cá hộp).

-     Ủy thác xuất khẩu năm 2018 ước đạt 19,51 triệu USD, giảm 2,33% so cùng kỳ.

-     Kim ngạch nhập khẩu năm 2018 ước đạt 746,12 triệu USD giảm 21,09% so cùng kỳ, chủ yếu giảm ở mặt hàng máy móc thiết bị, hàng thủy sản.

Nhìn chung, nhóm hàng thủy sản trong năm 2018 vẫn giữ mức tăng ổn định nhờ có nhiều đơn hàng ổn định. Nhóm hàng nông sản trong năm 2018 giảm sâu so cùng kỳ. Do mặt hàng cao su giảm mạnh, vì không có nhiều hợp đồng xuất khẩu, chủ yếu bán nội địa. Nhóm hàng hóa hóa khác chiếm tỷ trọng lớn là mặt hàng may mặc và giày dép. Hai mặt hàng này vào những tháng đầu năm có nhiều hợp đồng nên kim ngạch tăng hơn so cùng kỳ.

4. Giao thông vận tải

- Vận tải hành khách:

+ Ước tháng 12/2018 đã vận chuyển 2.306,7 nghìn hành khách và luân chuyển 115,2 triệu hk.km. Ước năm 2018, toàn tỉnh đã vận chuyển 24.426,3 nghìn hành khách, tăng 15,51% so năm trước) và luân chuyển 1.213,1 triệu hk.km, tăng 11,28% so năm trước.

+ Xét theo lĩnh vực, ước tháng 12/2018 vận chuyển hành khách đường bộ đạt 2.288,7 nghìn hành khách (ước năm 2018 đạt 24.236,7 nghìn hành khách, tăng 15,54% so năm trước); vận chuyển hành khách đường thủy đạt 18,0 nghìn hành khách (ước năm 2018 đạt 189,6 nghìn hành khách, tăng 11,07% so  năm trước); luân chuyển hành khách đường bộ đạt 113,1 triệu hk.km (ước năm 2018 đạt 1.191,9 triệu hk.km, tăng 11,27% so năm trước), luân chuyển hành khách đường thủy đạt 2,1 triệu hk.km (ước năm 2018 đạt 21,2 triệu hk.km, tăng 11,37% so năm trước).

- Vận tải hàng hoá:

+ Ước tháng 12/2018 vận chuyển hàng hoá đạt 916,1 nghìn tấn và luân chuyển hàng hoá đạt 49,8 triệu tấn.km. Ước năm 2018, toàn tỉnh đã vận chuyển 9.259,9 nghìn tấn hàng hoá (tăng 12,23% so năm trước) và luân chuyển hàng hoá đạt 517,9 triệu tấn.km (tăng 11,32% so năm trước).

+ Xét theo lĩnh vực, ước tháng 12/2018 vận chuyển hàng hoá đường bộ đạt 915,3 nghìn tấn (ước năm 2018 đạt 9.251,0 nghìn tấn, tăng 12,23% so năm trước); vận chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,8 nghìn tấn (ước năm 2018 đạt 8,9 nghìn tấn, tăng 11,36% so năm trước); luân chuyển hàng hoá đường bộ đạt 49,7 triệu tấn.km (ước năm 2018 đạt 516,9 triệu tấn.km, tăng 11,32% so năm trước), luân chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,1 triệu tấn.km (ước năm 2018 đạt 1 triệu tấn.km, tăng 11,95% so năm trước).

- Cảng tổng hợp Vĩnh Tân: Ước tháng 12/2018 sản lượng hàng hóa thông qua cảng là 6.000 tấn; ước năm 2018 khối lượng bốc xếp đạt 78.340 tấn (trong đó bốc xếp hàng xuất khẩu đạt 14.537 tấn). Các mặt hàng chủ yếu thông qua cảng gồm tinh quặng elmenite, cát xây dựng, muối, tro bay,...

- Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12/2018 ước đạt 205,7 tỷ đồng; ước năm 2018 đạt 2.165,7 tỷ đồng, tăng 13,62% so năm trước (trong đó doanh thu vận tải hành khách 932,0 tỷ đồng, tăng 14,11%; doanh thu vận tải hàng hóa 1.186,1 tỷ đồng, tăng 13,32% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 47,6 tỷ đồng, tăng 11,58% so năm trước).

Nhìn chung, trong năm 2018, công tác bảo đảm giao thông, lưu thông đi lại được thực hiện tốt. Vận tải đường bộ, đường biển ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của nhân dân. Bên cạnh đó, tỉnh cũng quản lý chặt chẽ các khâu trong công tác kiểm định xe cơ giới, sát hạch cấp giấy phép lái xe; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và siết chặt quản lý các cơ sở đào tạo hoạt động trên địa bàn và tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, kịp thời xử lý ngăn chặn xe quá tải, quá khổ, thực hiện tốt công tác bảo vệ hành lang an toàn đường bộ.

IV. Thu, chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu ngân sách

Thu ngân sách 11 tháng năm 2018 đạt 9.792,6 tỷ đồng, ước thu tháng 12 đạt 650 tỷ đồng; luỹ kế cả năm 2018 ước thu 10.442,6 tỷ đồng, đạt 122,85% dự toán năm (tăng 8,87% so năm trước). Trong đó: Thu nội địa (trừ dầu) 7.254,3 tỷ đồng, đạt 120,50% dự toán năm (tăng 18,54% so năm trước). Riêng thu thuế, phí 5.782,3 tỷ đồng, đạt 108,69% dự toán năm (tăng 19,65% so năm trước); thu tiền sử dụng đất 1.472,0 tỷ đồng, đạt 210,29% dự toán năm (tăng 14,40%); thu thuế xuất nhập khẩu 1.274,1 tỷ đồng, đạt 127,41% dự toán năm (giảm 23,40%) và thu dầu thô 1.914,2 tỷ đồng, đạt 129,34% dự toán năm (tăng 5,81% so năm trước).

Dự ước các khoản thu tăng (giảm) của năm 2018 so năm trước như sau: Thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.281,9 tỷ đồng (tăng 50,65% so năm trước), thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 688,2 tỷ đồng (tăng 9,70%), thu ngoài quốc doanh 1.052,5 tỷ đồng (tăng 14,43%), thuế thu nhập cá nhân 502,4 tỷ đồng (tăng 39,47%), thuế bảo vệ môi trường 403,2 tỷ đồng (giảm 15,24%), lệ phí trước bạ 289,1 tỷ đồng (tăng 39,33%), thu từ các loại phí, lệ phí 132,4 tỷ đồng (giảm 3,93%), thu xổ số kiến thiết 800,4 tỷ đồng (tăng 19,72%); thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 101,1 tỷ đồng (tăng 24,95%), thu tiền sử dụng đất 1.472,0 tỷ đồng (tăng 14,40%), thu từ dầu thô 1.914,2 tỷ đồng (tăng 5,81%) và thu thuế xuất nhập khẩu đạt 1.274,1 tỷ đồng (giảm 23,40%).

Description: http://cucthongke.vn/fckeditor/editor/filemanager/connectors/aspx/FCKeditor/img/image/t12_18_1.png

Riêng khối huyện, thị xã, thành phố kết quả thu trong 11 tháng năm 2018 đạt 2.650,2 tỷ đồng, ước tháng 12 thu 170,0 tỷ đồng; luỹ kế cả năm 2018 thu 2.820,2 tỷ đồng, đạt 152,94% dự toán năm (tăng 23,17% so năm trước). Trong đó: Phan Thiết thu 1.287,4 tỷ đồng, đạt 154,74% dự toán (tăng 31,19% so năm trước); La Gi: 195,2 tỷ đồng, đạt 158,73% dự toán (tăng 30,46%); Tuy Phong: 250,4 tỷ đồng, đạt 132,51% dự toán (giảm 3,17%); Bắc Bình: 139,3 tỷ đồng, đạt 176,29% dự toán (tăng 47,13%); Hàm Thuận Bắc: 389,9 tỷ đồng, đạt 188,35% dự toán (tăng 41,36%); Hàm Thuận Nam: 182,2 tỷ đồng, đạt 125,66% dự toán (tăng 6,88%); Tánh Linh: 95,9 tỷ đồng, đạt 115,48% dự toán (giảm 1,02%); Đức Linh: 137,2 tỷ đồng, đạt 152,45% dự toán (tăng 4,48%); Hàm Tân: 104,8 tỷ đồng, đạt 137,91 dự toán (tăng 8,94%) và Phú Quý thu 37,8 tỷ đồng, đạt 189,11% dự toán năm (tăng 8,78%).

Nhìn chung thu ngân sách đã có nhiều cố gắng. Một số khoản thu có tỷ trọng lớn trong dự toán đã tăng cao so năm trước nên đã tác động đến mức tăng thu là: Thu từ doanh nghiệp nhà nước, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, thu xổ số kiến thiết, thu tiền sử dụng đất, thu dầu thô; trong đó các khoản thu lớn đã vượt dự toán năm là: Thu từ doanh nghiệp nhà nước (đạt 119,25% dự toán năm), thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (đạt 110,79%), thuế thu nhập cá nhân (đạt 122,53%), lệ phí trước bạ (đạt 131,42%), thu xổ số kiến thiết (đạt 111,17%), thu tiền sử dụng đất (đạt 210,29%), thu dầu thô (đạt 129,34% dự toán năm). Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một vài nguồn thu có tỷ trọng khá lớn đạt thấp so dự toán và giảm so năm trước như: Thu thuế bảo vệ môi trường (mới đạt 68,33% dự toán năm, giảm 15,24% so năm trước).

Tình hình nợ thuế: Ước đến ngày 31/12/2018, tổng số tiền nợ thuế là 600 tỷ đồng (giảm 4,0% so năm trước), trong đó tỉnh đã có công văn đề nghị Tổng Cục thuế xem xét xóa nợ không có khả năng thu là 264 tỷ đồng. Tổng số nợ còn lại dự kiến đến ngày 31/12/2018 là 336 tỷ đồng. Hiện nay, tiếp tục tăng cường công tác quản lý hoàn thuế, thu hồi nợ đọng, thường xuyên triển khai chính sách thuế mới nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý thuế.

2. Chi ngân sách

Ước chi ngân sách địa phương trong tháng 12/2018 là 695,0 tỷ đồng; ước năm 2018 chi 9.610,96 tỷ đồng (đạt 106,98% dự toán năm). Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.908,18 tỷ đồng (đạt 97,95% dự toán năm); chi thường xuyên 5.622,81 tỷ đồng (đạt 99,79% dự toán năm). Trong chi ngân sách, đã bám sát theo Nghị quyết HĐND tỉnh, Quyết định giao dự toán của Chủ tịch UBND tỉnh. Triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên, nhất là kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, công tác nước ngoài, kinh phí mua sắm ô tô và trang thiết bị đắt tiền. Đồng thời, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong quản lý ngân sách nhà nước.

3. Hoạt động tín dụng

- Hoạt động tín dụng trên địa bàn ổn định. Đã thực hiện tốt các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn, mở rộng tín dụng an toàn và có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu và các chương trình, chính sách tín dụng của địa phương; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, đối thoại và thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

- Tình hình thực hiện lãi suất: Đã thực hiện tốt các quy định về lãi suất huy động và cho vay, tiết kiệm chi phí hoạt động để có điều kiện giảm lãi cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng. Mặt bằng lãi suất tương đối ổn định so đầu năm. Hiện nay, lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3-5,5%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3-6,5%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 6-6,5%/năm, các lĩnh vực khác từ 9-10%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 10-11,5%/năm.

- Hoạt động tín dụng: Được tiếp tục đẩy mạnh để tạo nguồn cho vay phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương. Đến 30/11/2018, nguồn vốn huy động đạt 33.407 tỷ đồng, tăng 8,58% so đầu năm; tổng dư nợ cho vay đạt 45.540 tỷ đồng, tăng 17,58% so đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 16,38%). Ước đến 31/12/2018: vốn huy động đạt 33.845 tỷ đồng, tăng 10% so đầu năm; dư nợ đạt 46.477 tỷ đồng, tăng 20% so đầu năm (cùng kỳ năm trước tăng 19,8%).

Cơ cấu tín dụng phân theo ngành kinh tế như sau: Dư nợ cho vay nông, lâm, thủy sản đạt 13.022 tỷ đồng, chiếm 28,6% tổng dư nợ; công nghiệp và xây dựng đạt 6.567 tỷ đồng, chiếm 14,4% tổng dư nợ; thương mại, dịch vụ đạt 25.950 tỷ đồng, chiếm 57,0% tổng dư nợ.

- Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 24.834 tỷ đồng, tăng 12% so đầu năm (chiếm 54,53% tổng dư nợ); dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 783 tỷ đồng, giảm 10,7% so đầu năm (chiếm 1,72% tổng dư nợ); dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 8.930 tỷ đồng, tăng 30,45% so đầu năm (chiếm 19,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay các đối tượng chính sách xã hội đạt 2.451 tỷ đồng/126.254 khách hàng.

- Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP: Tổng số tiền cam kết cho vay theo hợp đồng tín dụng là 1.100 tỷ đồng. Đến 30/11/2018, đã giải ngân xong cho tất cả 121 hồ sơ với số tiền 1.093 tỷ đồng (đạt 99,36% so tổng số tiền cam kết cho vay); dư nợ đạt 1.006,8 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ 301,4 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ 692,4 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 13 tỷ đồng); nợ xấu là 4,85 tỷ đồng; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 7,48 tỷ đồng/11 tàu. Ngoài ra, có 01 trường hợp đã xử lý rủi ro vào 31/10/2017; 01 trường hợp đưa ra khỏi danh sách cho vay 67, chuyển sang dư nợ thông thường vào năm 2018 do không thuộc đối tượng.

- Cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Quyết định số 813/QĐ-NHNN và Nghị quyết số 30/NQ-CP: Dư nợ cho vay đạt 397 tỷ đồng phục vụ sản xuất tôm giống, nuôi tôm thịt, mua bò và chăm sóc bò giống, trồng thanh long.

- Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP: Hiện đang được triển khai tại Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tỉnh với dư nợ đạt 2,55 tỷ đồng/8 hộ (được Trung ương phân bổ 15 tỷ đồng).

- Chính sách xây dựng bể chứa nước hộ gia đình và đào trữ nước cho vùng khô hạn tỉnh Bình Thuận năm 2017 và giai đoạn 2018-2020 theo Quyết định 1744/QĐ-UBND ngày 27/6/2017: Hiện nay đang tiếp cận với các hộ theo danh sách phê duyệt hỗ trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh, tuy nhiên đến nay vẫn chưa phát sinh dư nợ. Nguyên nhân do hầu hết hộ gia đình đã có khoản vay thông thường tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chưa có nhu cầu hoàn thiện hồ sơ để vay thêm khoản mới.

- Chất lượng tín dụng: Tỉnh tiếp tục thực hiện các giải pháp để ngăn chặn và xử lý nợ xấu, trong đó thực hiện đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý, thu nợ. Đến 30/11/2018, nợ xấu (nội bảng) trên địa bàn là 434 tỷ đồng (chiếm 0,95% tổng dư nợ), tỷ lệ nợ xấu tăng 0,11% so đầu năm.

- Hoạt động thanh toán, cung ứng tiền mặt: Tiếp tục tăng cường đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển lương qua tài khoản, thanh toán qua POS. Mạng lưới ATM, POS tiếp tục được mở rộng, hoạt động thông suốt và an toàn. Đến 30/11/2018, trên địa bàn có 170 máy ATM và 1.475 máy POS, hầu hết máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau, góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

- Tình hình thị trường ngoại tệ và vàng trên địa bàn: Tiếp tục triển khai thực hiện tốt việc quản lý ngoại hối, quản lý hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn; tổ chức tốt công tác điều hòa tiền mặt, an toàn kho quỹ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ điện tử giữa các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước trên địa bàn. Nhìn chung, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp đều được đáp ứng đầy đủ, các giao dịch mua bán ngoại tệ được thực hiện thông suốt. Doanh số mua bán ngoại tệ trong 11 tháng đầu năm đạt 1.634 triệu USD, tăng 40% so cùng kỳ năm trước, trong đó doanh số chi trả kiều hối đạt 106 triệu USD, tăng 87% so cùng kỳ năm trước.

V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa

Trong năm 2018, đã tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các sự kiện quan trọng, các ngày tết, ngày lễ lớn của đất nước; Luật an ninh mạng và dự thảo Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt,… với 60.156 giờ phát thanh xe loa, phóng thanh, cắt dán 52.352 băng rôn khẩu hiệu, kẻ vẽ 55.297 m2 pa nô, 53.764 panô dọc, treo 59.825 lượt cờ các loại. Phát hành 900 tập san thông tin nghiệp vụ, 900 tờ tin, ảnh. Đội Tuyên truyền lưu động - Trung tâm Văn hóa tỉnh thực hiện 64/90 buổi văn nghệ tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội, chương trình ca múa nhạc mừng Đảng, mừng xuân tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.

- Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, thiết thực phục vụ các ngày lễ, tết, các hoạt động hướng về cơ sở phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, vùng bãi ngang đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân.

- Hoạt động Thư viện: Trong năm cấp mới 766 thẻ bạn đọc (thiếu nhi 226 thẻ), phục vụ 1.698.002 lượt bạn đọc (thiếu nhi 6.380 lượt), trong đó lượt bạn đọc đến thư viện 28.336 lượt, lượt truy cập website 1.667.989 lượt, lượt bạn đọc sử dụng phòng Đa phương tiện 1.677 lượt.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:

+ Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Đón và phục vụ 153.500 lượt người, trong đó có 505 lượt khách nước ngoài; Phục vụ 168 lễ viếng, kết nạp Đoàn, báo công, trao huy hiệu Đảng,... Phục vụ chu đáo các đoàn đại biểu và nhân dân tham quan, viếng Bác.

+ Bảo tàng tỉnh: Đón 5.538 lượt khách tham quan Bảo tàng. Sưu tầm, trao đổi, tiếp nhận 117/100 hiện vật (đạt 117% kế hoạch). Triển lãm ảnh tư liệu “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968”, “Các di tích cấp Quốc gia, cấp tỉnh”. Tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật Nghĩa Trủng từ (xã Phan Rí Thành, Bắc Bình).

+ Trung tâm Trưng bày Văn hóa Chăm: Đón 10.089 lượt khách tham quan, trong đó có 300 lượt khách nước ngoài. Duy trì, tổ chức các hoạt động phục vụ du khách trong các dịp lễ, tết.

- Hoạt động điện ảnh: Các Đội chiếu bóng lưu động và các rạp chiếu phim thực hiện 794/1.000 buổi chiếu phục vụ chính trị (thiếu nhi 270 buổi), thu hút 506.485 lượt người xem. Doanh thu từ chiếu phim đạt 450 triệu đồng.

2. Thể dục thể thao

- Thể thao cho mọi người: trong năm đã phối hợp tổ chức 17 giải thể thao tỉnh, khu vực và quốc gia; đăng cai tổ chức thành công giải vô địch Bóng ném bãi biển nam, nữ toàn quốc năm 2018; giải Đua thuyền truyền thống toàn quốc năm 2018; giải trẻ Taekwondo Cụm các tỉnh miền Đông Nam bộ năm 2018 và các trận thi đấu giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2018. Đến nay, tỷ lệ người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 29,5%/31% (đạt 95%), tỷ lệ trường học đảm bảo giáo dục thể chất đạt 100%.

- Thể thao thành tích cao: Tính đến ngày 30/9/2018, các đoàn thể thao của tỉnh đã đạt được 125/90 huy chương các loại (đạt 139% kế hoạch), trong đó có 50/26 HCV (đạt 192% kế hoạch), 38/24 HCB (đạt 158% kế hoạch), 37/40 HCĐ (đạt 93% kế hoạch). Có 27 vận động viên đạt Kiện tướng và dự bị kiện tướng, 68 vận động viên Cấp 1.

Nhìn chung, trong năm hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao diễn ra sôi nổi, thiết thực phục vụ các ngày lễ, tết, nhiều chương trình được chú trọng, phát triển và đẩy mạnh về cơ sở phần nào đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Công tác bảo tồn, phát huy di tích văn hóa được chú trọng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao chất lượng gắn với thực hiện phong trào “Chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới” tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục duy trì và phát triển, thu hút nhiều người tham gia tập luyện.

3. Giáo dục và đào tạo

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hoàn thành chương trình năm học 2017 – 2018. So năm học trước đã có sự chuyển biến đáng kể về quy mô phát triển lẫn loại hình giáo dục. Cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng nhiều hơn, trường, lớp được xây dựng kiên cố hoá, từng bước đi đến chuẩn hóa và chất lượng giáo dục học sinh cũng được nâng cao.

3.1 Kết quả năm học 2017-2018, cụ thể như sau

3.1. Giáo dục phổ thông

a. Tiểu học

- Về xếp loại học tập:

+ Môn Toán đạt hoàn thành trở lên chiếm tỷ lệ 99,12% (trong đó hoàn thành tốt chiếm 46,54%, hoàn thành 52,58%).

+ Môn Tiếng Việt hoàn thành trở lên chiếm tỷ lệ 98,88% (trong đó hoàn thành tốt chiếm 40,01% và hoàn thành 58,87%).

- Về Năng lực: Tự phục vụ: đạt trở lên chiếm 99,8% (trong đó: tốt 57,48%); Hợp tác: đạt trở lên chiếm 99,78% (trong đó: tốt 55,54%); Tự giải quyết vấn đề: đạt trở lên chiếm 99,48% (trong đó: tốt 50,92%).

- Về Phẩm chất: Chăm học chăm làm: đạt trở lên chiếm 99,75% (trong đó: tốt 53,84%); Tự tin trách nhiệm: đạt trở lên chiếm 99,89% (trong đó: tốt 53,74%); Trung thực, kỷ luật: đạt trở lên chiếm 99,95% (trong đó: tốt 60,8%); Đoàn kết, yêu thương: đạt trở lên chiếm 99,93% (trong đó: tốt 65,58%).

b. Trung học cơ sở

Học sinh đạt học lực khá, giỏi đạt tỷ lệ 55,94% (tăng 2,0% so năm học trước); học sinh đạt hạnh kiểm khá, tốt đạt tỷ lệ 92,89% (tăng 1,35% so năm trước).

c. Trung học phổ thông

Học sinh đạt học lực khá, giỏi đạt tỷ lệ 57,08% (tăng 0,49% so năm trước); học sinh đạt hạnh kiểm khá, tốt đạt tỷ lệ 93,69% (tăng 0,8% so năm trước).

d. Kết quả các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia

- Kết quả kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2017-2018: Toàn tỉnh có 769 học sinh đạt giải, trong đó: 19 Giải nhất, 73 Giải nhì và 474 Giải Ba. So năm học trước, tăng  208 giải (Giải nhất tăng: 10; Giải nhì tăng: 11; Giải ba tăng: 187).

- Kết quả kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2017-2018: Toàn tỉnh có 323 học sinh đạt giải, trong đó: 13 Giải nhất, 51 Giải nhì và 259 Giải Ba. So năm học trước, tăng 73 giải (Giải nhất tăng: 00; Giải nhì tăng: 16; Giải ba tăng: 57).

- Kỳ thi Olympic 30/4 các trường chuyên và không chuyên phía Nam năm học 2017-2018, tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh; trường THPT chuyên Trần Hưng Đạo có 42 học sinh đạt Huy chương, cụ thể: 18 Huy chương Vàng, giảm 07 giải so năm học trước; 14 Huy chương Bạc, tăng 01 giải so năm học trước; 10 Huy chương Đồng, tăng 03 giải so năm học trước; các trường không chuyên (THPT Phan Bội Châu, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Hùng Vương) có 80 học sinh đạt Huy chương, gồm: 15 Huy chương vàng, 24 Huy chương Bạc, 41 Huy chương Đồng.

- Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, tỉnh Bình Thuận có 11 học sinh đạt giải, gồm: 01 giải nhì, 03 Giải ba, 07 giải khuyến khích. So năm học 2016-2017, tăng 01 giải nhì và 01 giải ba.

- Cuộc thi Khoa học Kỹ thuật dành cho học bậc THCS và THPT năm học 2017-2018 cấp tỉnh có 10 giải, trong đó: 01 Giải nhất, 02 Giải nhì, 03 Giải ba và 04 Giải khuyến khích; tham gia cấp quốc gia có 01 tập thể đạt Giải 4 quốc gia.

e. Kết quả kỳ thi trung học phổ thông quốc gia

Số lượng học sinh đậu tốt nghiệp của toàn tỉnh năm 2018: 10.987, đạt tỷ lệ 98,13% (cao hơn 0,56% so tỷ lệ tốt nghiệp THPT toàn quốc năm 2018, giảm 0,6% so tỷ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh năm 2017). Trong đó, giáo dục THPT đạt 99,36% (cao hơn 1% so toàn quốc, giảm 0,31% so tỷ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh), GDTX đạt 71,14% (thấp hơn 17,23% so tỷ lệ của toàn quốc). Toàn tỉnh có 04/28 trường THPT tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 100%; có điểm trung bình thi là 5,248; xếp vị trí thứ 10/63 tỉnh, thành trong cả nước, tăng 01 hạng so năm 2017.

 3.2. Về khắc phục tình trạng học sinh bỏ học

Số lượng học sinh bỏ học trong năm học là của các cấp là 1.119 em, tỷ lệ 0,50%, giảm 12,2% so năm học trước (vượt chỉ tiêu được giao 2,2%), cụ thể:

- Cấp tiểu học: có 12 học sinh bỏ học, tỷ lệ 0,01%, giảm so năm học trước 0,01%.

- Cấp trung học cơ sở: có 803 học sinh bỏ học, tỷ lệ 1,04%, giảm 0,07% so năm học trước.

- Cấp trung học phổ thông: có 304 học sinh bỏ học, tỷ lệ 0,91%, giảm 0,29% so năm học trước.

3.3. Kết quả huy động học sinh các cấp học và thực hiện tuyển mới các lớp đầu cấp năm học 2018-2019

3.3.1. Tỷ lệ huy động học sinh các cấp học

- Mầm non: số cháu ra lớp đầu năm học 62.062, trong đó nhà trẻ có 7.150 cháu, so năm trước tăng 928 cháu, tỷ lệ huy động 0-2 tuổi là 13,78% (vượt 1,48% so kế hoạch); mẫu giáo có 54.912 cháu, so năm trước giảm 334 cháu, tỷ lệ huy động 3-5 tuổi là 87,23% (vượt 0,23% so kế hoạch); mẫu giáo 5 tuổi có 22.704 cháu, so năm trước giảm 2.681 cháu, tỷ lệ huy động 5 tuổi là 99,62% (vượt 0,07% so kế hoạch).

- Tiểu học: số học sinh có mặt đầu năm 115.594, so năm trước tăng 4.544 học sinh, tỷ lệ huy động học sinh tiểu học đúng độ tuổi đạt 99,99% (vượt kế hoạch 0,09%); tỷ lệ huy động 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,97% (vượt kế hoạch 0,07%).

- Trung học cơ sở: số học sinh có mặt đầu năm 77.329, so năm trước tăng 1.115 học sinh, tỷ lệ huy động học sinh THCS đúng độ tuổi đạt 90,40% (vượt kế hoạch 1,4%).

- Trung học phổ thông: số học sinh có mặt đầu năm 35.200, so năm trước tăng 1.813 học sinh, tỷ lệ huy động học sinh THPT đúng độ tuổi đạt 50,36% (vượt kế hoạch 1,36%).

3.3.2. Thực hiện tuyển mới các lớp đầu cấp

- Tuyển mới học sinh vào lớp 1 là 27.285, đạt tỷ lệ huy động cháu 6 tuổi vào lớp 1 là 99,99% (vượt 0,09% chỉ tiêu kế hoạch).

- Tuyển mới học sinh vào lớp 6 là 21.265, tỷ lệ tuyển mới học sinh vào lớp 6 so học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 là 97,8% (tăng 0,03% so năm học trước).

- Tuyển mới học sinh vào lớp 10 là 12.924, tỷ lệ tuyển mới học sinh vào lớp 10 so học sinh tốt nghiệp THCS  là 78,19% (tăng 2,83% so năm học trước).

- Trường tiểu học dạy 02 buổi/ngày có 209/261 trường (tăng 23 trường, hoàn thành kế hoạch đề ra), đạt tỷ lệ 80,07% (tăng 8,27% so năm 2017).

3.4. Củng cố, duy trì nâng cao chất lượng công tác phổ cập giáo dục

- Về phổ cập giáo dục tiểu học: 100% số xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã); huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là huyện) đảm bảo duy trì chuẩn quốc gia, cụ thể: có 07 xã đạt mức độ 2, 120 xã đạt mức độ 3; 08 huyện đạt mức độ 3; 02 huyện đạt mức độ 2 (huyện Tuy Phong và Bắc Bình); Tỉnh đạt mức độ 2.

- Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở: tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí về phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại 127/127 xã và 10/10 huyện đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia, cụ thể: có 58 xã đạt mức độ 1, 67 xã đạt mức độ 2, 02 xã đạt mức độ 3; 01 huyện đạt mức độ 2 (huyện Phú Quý), 09 huyện còn lại đạt mức độ 1; Tỉnh đạt mức độ 1.

- Về công tác xóa mù chữ: 28 xã đạt mức độ 1; 99 xã đạt mức độ 2; 06 huyện đạt mức độ 2; 04 huyện đạt mức độ 1 (huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Tánh Linh); Tỉnh đạt mức độ 1.

- Về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi: Hiện nay, toàn tỉnh có 127/127 xã, phường, thị trấn và 10/10 huyện, thị xã, thành phố duy trì chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi (đạt tỷ lệ 100%).

3.5. Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia

Tính đến thời điểm báo cáo (29/11/2018), đã kiểm tra công nhận được 28 trường (vượt 07 trường so chỉ tiêu), cụ thể:

- 10 trường mầm non: Mẫu giáo Tuổi Ngọc, Sao Mai (huyện Tánh Linh); Mầm non Xuân An, Phan Thiết (Phan Thiết); Mẫu giáo Hoa Hồng, Mẫu giáo Ánh Dương (huyện Đức Linh); Mẫu giáo Tân Xuân (huyện Hàm Tân); Mẫu Giáo Tuổi Thơ (La Gi); Mẫu giáo Hàm Liêm (huyện Hàm Thuận Bắc); Mầm non Hướng Dương (huyện Bắc Bình).

- 11 trường tiểu học: Hàm Liêm 1 (huyện Hàm Thuận Bắc); Đồng Kho (huyện Tánh Linh); Lạc Trị (huyện Tuy phong); Bình Hưng (Phan Thiết); Phan Hiệp (huyện Bắc Bình); Hoàng Hoa Thám, Lý Thường Kiệt (huyện Đức Linh); Sơn Mỹ 2, Tân Đức 1, Tân Minh (huyện Hàm Tân); Hàm Thắng 2 (huyện Hàm Thuận Bắc).

- 06 trường trung học cơ sở: Phước Thể và Hòa Minh (huyện Tuy Phong),  Gia An (huyện Tánh Linh), Tân Phúc (huyện Hàm Tân), Hồng Phong (huyện Bắc Bình), Trần Quốc Toản (huyện Đức Linh).

- 01 trường THPT: Phan Chu Trinh (Phan Thiết).

Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia hiện nay là 224 trường, gồm có 39 trường mầm non, 111 trường tiểu học, 60 trường THCS, 14 trường THPT. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia so số trường công lập là 39,30%/570 trường (trong đó trường mầm non đạt 25,49%/153 trường, trường tiểu học đạt 42,53%/261 trường, trường THCS 46,15%/130 trường, trường THPT đạt 53,85%/26 trường).

Nhìn chung, công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục duy trì ổn định dạy và học ở từng cấp học trên toàn tỉnh. Tỷ lệ huy động học sinh ở các cấp học đều vượt và tăng, chất lượng giáo dục đều chuyển biến tiến bộ so năm học trước; giảm được tỷ lệ học sinh bỏ học trong năm. Công tác chuẩn bị cho Kỳ thi THPT quốc gia năm 2018 được chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ, huy động được cả hệ thống chính trị và lực lượng trong xã hội cùng tham gia; học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ đạt tỷ lệ cao hơn 0,56% so tỷ lệ tốt nghiệp THPT toàn quốc, trong đó, giáo dục THPT đạt cao hơn 1% so toàn quốc. Toàn tỉnh có điểm trung bình thi xếp vị trí thứ 10/63 tỉnh, thành trong cả nước, tăng 01 hạng so năm 2017.

4. Y tế

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; tăng cường ứng dụng các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị. Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia cơ bản đạt tiến độ. Các đơn vị y tế dự phòng đã tập trung thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra bệnh dịch lớn.

      Toàn tỉnh hiện có 115/115 Trạm Y tế xã, phường có bác sỹ công tác, chiếm tỷ lệ 100%; bình quân có 7,15 bác sỹ/vạn dân, tăng 0,15 so năm 2017 (kế hoạch năm 2018: 7,15); Tổng số xã, phường, thị trấn đạt Chuẩn quốc gia về y tế 119/127, đạt tỷ lệ 93,7%. Toàn tỉnh bình quân có 7,15 bác sỹ/vạn dân, tăng 0,15 so năm 2017 (kế hoạch năm 2018: 7,15).

Các bệnh truyền nhiễm ghi nhận trong 11 tháng chủ yếu là bệnh Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, Thủy đậu và Quai bị. Đa số các địa phương đều làm tốt công tác xử lý dịch. Công tác xử lý ổ dịch Sốt xuất huyết kịp thời (khoanh vùng xử lý khi có ca bệnh theo tiêu chuẩn ổ dịch của Chương trình phòng chống Sốt xuất huyết). Tổ chức tốt việc thu dung, điều trị bệnh dịch tại các bệnh viện, Trung tâm Y tế; đảm bảo đáp ứng các tình huống dịch bệnh.

Qua 11 tháng, không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh. Những ca bệnh nguy hiểm, bệnh xâm nhập, bệnh mới nổi (viêm màng não mô cầu, nhiễm virus Zika ...) đều được giám sát, xử lý kịp thời, đúng quy trình; bệnh nhân nghi ngờ, người tiếp xúc được lấy mẫu để xác định chẩn đoán, cùng với tiến hành điều tra dịch tễ và thực hiện các hoạt động phòng chống dịch khẩn cấp, do đó bệnh không lây lan thành dịch. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết/100.000 dân ước 2018: 74, giảm 2,1 lần so năm 2017; Tỷ lệ mắc sốt rét/1.000 dân ước năm 2018: 0,1 tăng 0,02 so năm 2017  và không có tử vong.

Thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số cơ bản đạt tiến độ theo kế hoạch; nhiều hoạt động được tăng cường; duy trì hoạt động các dự án Chương trình mục tiêu dân số - kế hoạch hóa gia đình, truyền thông - giáo dục sức khỏe, phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống lao, phòng, chống phong, phòng, chống sốt rét, phòng, chống mù lòa; chăm sóc sức khỏe sinh sản, công tác kiểm nghiệm, kiểm dịch, giám định. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin ước 9 tháng đạt 71,6 % (cùng kỳ: 73%).

Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm làm 07 người mắc, không có trường hợp tử vong (cùng kỳ năm 2017 xảy ra 02 vụ, 16 người mắc và 01 trường hợp tử vong).

Nhìn chung, công tác khám chữa bệnh phục vụ tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân. Các bệnh viện, các đơn vị điều trị chủ động thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện đầy đủ các quy định chuyên môn của Bộ Y tế; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Các cơ sở khám chữa bệnh công lập triển khai thực hiện tốt Luật Bảo hiểm y tế, không để xảy ra sai sót chuyên môn gây hậu quả nghiêm trọng; không có công chức, viên chức vi phạm Y đức. Số lượt bệnh nhân khám và điều trị nội trú trong năm 2018 ở các tuyến giảm so cùng kỳ; nguyên nhân hiện nay chưa được đánh giá đầy đủ, nhưng có thể do hiệu quả của hoạt động truyền thông và y tế dự phòng những năm qua, ngoại trừ các bệnh không lây nhiễm, những bệnh lây nhiễm được phòng ngừa tốt và giảm số người mắc bệnh.

5. Lao động - Xã hội

Trong tháng đã giải quyết việc làm cho 705 lao động, nâng tổng số giải quyết việc làm cả năm 2018 cho 24.400/24.000 lao động, đạt 101,67% kế hoạch; trong đó, vay vốn giải quyết việc làm cho 1.200 lao động, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp 3.991 lao động, đưa đi làm việc ở nước ngoài 150 lao động (bao gồm các thị trường 13 Đài Loan, 19 Hàn Quốc, 100 Nhật Bản, 09 Ả Rập Xê Út), các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội giải quyết việc làm cho 19.059 lao động.

Đã tuyển mới và đào tạo nghề cho 233 người; trong đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho 233 người; nâng tổng số đào tạo nghề cả năm 2018 đạt 11.057/11.000 người, đạt 100,52% kế hoạch năm; trong đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho 6.061/6.000 người, đạt 101,02% kế hoạch.

Toàn tỉnh có 2.877 người nghiện ma túy; có 106/127 xã, phường, thị trấn (giảm 02 xã: Phan Sơn - Bắc Binh và Phú Lạc - Tuy Phong) có người sử dụng chất ma túy, chiếm 83,46% xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy. Số người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone lũy kế đến ngày 11/12/2018: 1.442 người (tăng 12 người so tháng trước).

Quỹ đền ơn đáp nghĩa vận động được 9,4 tỷ đạt 150,7%, trong đó: cấp tỉnh được 2,6 tỷ/1,5 tỷ đạt 176,2% ; cấp huyện được 6,4 tỷ/4,5 tỷ đạt 142,1%.

Duy trì 127 xã, phường, thị trấn đăng ký thực hiện xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em, đạt 100% kế hoạch năm. Số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em năm 2018: 126/124, đạt tỉ lệ 101,6% kế hoạch năm. Đã vận động Quỹ Bảo trợ trẻ em 2.257 triệu đồng, đạt 112,85% kế hoạch năm.

Công tác chính sách người có công: Trong năm 2018, công tác chính sách người có công đã tổ chức đưa 707 người có công đi điều dưỡng và 157 người có công đi tham quan. Thực hiện giải quyết chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần cho 330 đối tượng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công. Trợ cấp thờ cúng cho 375 người thờ cúng liệt sỹ. Cấp ưu đãi giáo dục cho 114 trường hợp.

Nhìn chung, trong năm 2018, ngành chức năng đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu trong việc giải quyết việc làm, thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo và các chính sách an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa được quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời; tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh liệt sĩ, tri ân, chăm lo các đối tượng và gia đình có công với cách mạng bằng nhiều hoạt động thiết thực. Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề tiếp tục được đẩy mạnh, chất lượng được nâng lên. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động được triển khai thường xuyên bằng nhiều hình thức. Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật lao động trong các doanh nghiệp ngày càng được tăng cường; công tác phòng, chống ma túy, mại dâm, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về được phối hợp triển khai kịp thời đến địa phương, cơ sở; mô hình xã, phường, thị trấn lành mạnh không có tệ nạn mại dâm và xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em tiếp tục được duy trì.

6. Hoạt động bảo hiểm

Tính đến ngày 30/11/2018, toàn tỉnh có 93.642 người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc (tăng 8,4% so cùng kỳ năm trước); số người tham gia BHXH tự nguyện 635 người (giảm 13,8% so cùng kỳ năm trước); số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 81.760 người (tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước); số người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) 956.064 người (gồm thân nhân sỹ quan 10.017 thẻ, tăng 5% so cùng kỳ năm trước). Tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân đạt 81,7% (bao gồm 56.495 thẻ BHYT của người dân Bình Thuận học tập và lao động ở ngoài tỉnh).

Công tác thu: Tính đến ngày 30/11/2018, toàn tỉnh thu được 1.873,371 tỷ đồng, đạt 92,1% kế hoạch năm (tăng 15,7% so cùng kỳ năm trước). Tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN là 138,774 tỷ đồng; nguyên nhân là do các nguồn chi và hỗ trợ từ nguồn ngân sách Nhà nước địa phương chưa được trích chuyển đầy đủ, kịp thời, tình trạng chậm đóng, nợ đọng tại các đơn vị và địa phương vẫn chưa được khắc phục.

Trong tháng đã xét duyệt giải quyết cho 5.074 lượt người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (tăng 3,8% so cùng kỳ). Tính từ đầu năm đến 30/11/2018, đã xét duyệt giải quyết 51.720 người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tăng 17,8% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội là 45.782 lượt người (hưởng chế độ BHXH dài hạn 909 người, trợ cấp BHXH một lần 8.520 người; các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức - phục hồi sức khoẻ 36.353 lượt người); bảo hiểm thất nghiệp là 5.938 lượt người.

Nhìn chung, từ đầu năm đến nay (tính đến 30/11/2018), công tác phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm đã có chuyển biến tích cực đạt và vượt kế hoạch đề ra; giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT chính xác, trả sổ BHXH cho người lao động cơ bản đúng kế hoạch; thực hiện tốt việc chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, BHTN đảm bảo đầy đủ, kịp thời, an toàn. Ước đến hết ngày 31/12/2018 ngành bảo hiểm thực hiện đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch do bảo hiểm xã hội Việt nam và tỉnh giao.

7. Khoa học - Công nghệ, Thông tin và Truyền thông:

Hoạt động nghiên cứu khoa học được chú trọng. Trong năm đã phê duyệt danh mục 10 nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặt hàng thực hiện trong kế hoạch năm 2018.

Công tác ứng dụng khoa học công nghệ và khuyến nông vào sản xuất được quan tâm triển khai thực hiện. Trong năm đã hỗ trợ các tổ chức nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể cho 06 sản phẩm đặc trưng của địa phương vượt  300% chỉ tiêu. Tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng bảo hộ thương hiệu các đặc sản địa phương, UBND tỉnh đã cho phép Hội Nông dân xã Thắng Hải sử dụng tên địa danh “Thắng Hải - Hàm Tân” và Hội Nông dân xã Tân Phúc sử dụng tên địa danh để đăng ký nhãn hiệu tập thể; Cục Sở hữu trí tuệ đã chọn “Thanh long Bình Thuận” là một trong ba sản phẩm (cùng với Vải Thiều Lục Ngạn - Bắc Giang và Cafe Buôn Ma Thuộc) đăng ký chỉ dẫn địa lý sang Nhật Bản.

Công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng kịp thời, đa dạng. Thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ nhân dân; hạ tầng mạng lưới bưu chính, viễn thông được đầu tư theo hướng hiện đại, chất lượng các dịch vụ ngày càng được nâng lên. Tính đến ngày 25/11/2018, các mạng lưới phục vụ bưu chính, viễn thông được duy trì với 1.120 cơ sở kinh doanh dịch vụ bưu chính, viễn thông, đạt bán kính phục vụ bình quân 1,5 km/cơ sở. Dự ước cả năm 2018, tổng số thuê bao điện thoại các loại ước đạt 1.820 ngàn thuê bao (điện thoại cố định 60 ngàn thuê bao); mật độ điện thoại 145 thuê bao/100 dân, đạt 100% kế hoạch; tổng số thuê bao Internet ước đạt 82 ngàn thuê bao, tỷ lệ người sử dụng Internet (quy đổi) là 51%, đạt 120% kế hoạch năm.

 Các sở, ngành, địa phương đã tích cực hơn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động chuyên môn. Các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, thúc đẩy cải cách hành chính, minh bạch hóa thông tin, phục vụ chỉ đạo điều hành, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin và phòng chống mã độc trong các cơ quan nhà nước được quan tâm thực hiện.

8. Tai nạn giao thông

Trong tháng 12/2018 (từ 16/11/2018 - 15/12/2018), tai nạn giao thông trên địa bàn xảy ra như sau:

- Số vụ tai nạn giao thông 40 vụ (so tháng trước giảm 08 vụ), trong đó đường sắt xảy ra 01 vụ, không có vụ tai nạn giao thông đặt biệt nghiêm trọng nào. So cùng kỳ năm trước tăng 05 vụ. Luỹ kế 12 tháng 427 vụ so cùng kỳ năm trước giảm 57 vụ (trong đó có xảy ra 03 vụ đường sắt).

- Số người bị thương 32 người (giảm 09 người so tháng trước). So cùng kỳ năm trước tăng 06 người. Luỹ kế 12 tháng là 313 người, giảm 63 người so cùng kỳ năm trước.

- Số người chết 21 người (so tháng trước giảm 14 người), trong đó đường sắt chết 01 người; So cùng kỳ năm trước tăng 06 người. Luỹ kế 12 tháng là 245 người (so cùng kỳ tăng 22 người), trong đó đường sắt chết 01 người.

Các vụ tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra ở khu vực ngoài đô thị, nguyên nhân của các vụ tai nạn trên là do người tham gia giao thông phóng nhanh vượt ẩu, qua đường không quan sát, có rượu bia khi tham gia giao thông.

9. Thiên tai, cháy nổ

9.1. Thiên tai: Trong tháng 12 có 3 đợt thiên tai xảy ra, trong đó bão số 9 ảnh hưởng trực tiếp các địa phương ven biển; mưa lớn gây ngập lụt, kết hợp xả lũ qua tràn các hồ chứa thủy lợi; gió mạnh, lốc xoáy cục bộ trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh.

Thống kê, đánh giá thiệt hại:

- Về người: Không có thiệt hại về người.

- Về nhà ở: 918 căn, trong đó số nhà bị sập, hư hỏng, tốc mái 75 căn; số nhà bị ngập nước 843 căn.

- Về sản xuất nông nghiệp: Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp bị ngập, hư hỏng: 6.482,52 ha lúa, thanh long và hoa màu các loại. Về gia súc, gia cầm thiệt hại 17 con gia súc và 5.864 con gia cầm.

- Tổng số tàu thuyền bị chìm, hư hỏng 65 chiếc. Nuôi trồng thủy sản thiệt hại 20,2 ha tôm nuôi do nước lũ tràn vào; lồng bè nuôi trồng thủy sản thiệt hại 05 bè,… Tổng giá trị thiệt hại toàn tỉnh khoảng hơn 132 tỷ đồng.

Tình hình thiên tai trong năm 2018 (tính đến ngày 15/12) đã xảy ra 29 đợt, tổng thiệt hại khoảng 162,8 tỷ đồng.

9.2. Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 04 vụ cháy (giảm 01 so cùng kỳ), thiệt hại 172 triệu đồng, không xảy ra nổ. Luỹ kế đến ngày 15/12/2018 xảy ra 59 vụ cháy (tăng 17 vụ với cùng kỳ), tổng thiệt hại 14,4 tỷ đồng.

9.3. Vi phạm môi trường: Trong tháng đã phát hiện 01 vụ vi phạm môi trường (giảm 03 vụ so cùng kỳ), đã xử phạt 120 triệu đồng. Luỹ kế đến ngày 15/12/2018 xảy ra 36 vụ vi phạm môi trường (tăng 12 vụ so cùng kỳ), đã xử phạt 1.980 triệu đổng.

* ĐÁNH GIÁ CHUNG:

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2018 có chuyển biến tích cực; nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và tăng khá so cùng kỳ năm trước:

- Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp đạt kết quả, phát huy hiệu quả sử dụng đất và tiết kiệm nguồn nước tưới. Diện tích, sản lượng cây lâu năm, cây ăn quả phát triển ổn định. Chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định, trong năm 2018 không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển, sản lượng khai thác hải sản đạt kế hoạch đề ra; sản xuất tôm giống tăng khá so cùng kỳ năm trước. Công tác phòng chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi được triển khai tích cực, các dịch bệnh được khống chế kịp thời. Diện tích rừng trồng mới đạt và vượt so cùng kỳ năm trước; công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản, xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo. Các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác vùng biển xa, chính sách hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp tục triển khai thực hiện tốt.

- Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, nhiều sản phẩm công nghiệp đều tăng so năm 2017, trong đó đáng chú ý là lĩnh vực công nghiệp sản xuất và phân phối điện đạt mức tăng trưởng khá cao liên tục, trở thành động lực quan trọng dẫn dắt cả ngành công nghiệp và đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các công trình dự án điện tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ thi công. Đầu tư kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được quan tâm chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc. Ngành khai khoáng đang có dấu hiệu phục hồi sau thời gian dài gặp khó khăn.

- Hoạt động thương mại, xuất khẩu tăng trưởng khá. Công tác quản lý thị trường được tăng cường; giá cả hàng hóa, dịch vụ giữ được ổn định. Hoạt động giao thông vận tải ổn định, khối lượng vận tải hành khách và hàng hoá đều tăng so cùng kỳ. Công tác bảo đảm giao thông, lưu thông đi lại được thực hiện tốt, không có tuyến đường nào ách tắc. Vận tải đường bộ, đường biển ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của nhân dân.

- Hoạt động du lịch phát triển ổn định; số lượng du khách, thời gian lưu trú và doanh thu du lịch tăng khá so cùng kỳ năm trước. Chất lượng phục vụ du khách được nâng lên, an ninh, an toàn cho du khách tại các khu, tuyến, điểm du lịch được bảo đảm; lượng du khách, doanh thu du lịch tăng khá so cùng kỳ năm trước. Quản lý thị trường, giá cả, vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo.

- Thu ngân sách có nhiều cố gắng. Có nhiều khoản thu đạt trên mức bình quân chung so dự toán năm. Ở các huyện, thị xã, thành phố hầu hết thu ngân sách đều vượt dự toán và tăng so cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách bảo đảm cho yêu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các nhiệm vụ trọng tâm, bức xúc. Hoạt động tín dụng trên địa bàn ổn định và tiếp tục phát triển theo hướng tập trung phục vụ phát triển sản xuất - kinh doanh.

- Công tác đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách và thu hút đầu tư có nhiều cố gắng. Việc đôn đốc, rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi nhất để thúc đẩy các dự án, các công trình trọng điểm, bức xúc trên địa bàn được tập trung chỉ đạo. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng khá so cùng kỳ năm trước.

- Các vấn đề xã hội tiếp tục có nhiều mặt chuyển biến. Trong năm chưa xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm; các bệnh xã hội được tiếp tục chú trọng, quan tâm điều trị kịp thời. Chương trình y tế quốc gia được triển khai đều ở các tuyến; công tác khám chữa bệnh được đảm bảo. Chất lượng dạy và học ở các cấp phổ thông được tiếp tục chú trọng và được nâng lên; tỷ lệ bỏ học giảm; đã chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho kỳ thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT,… Giải quyết việc làm cho người lao động có nhiều cố gắng. Công tác xoá đói giảm nghèo, chăm sóc các gia đình, những người có công với nước được tiếp tục quan tâm. Số lao động được giải quyết việc làm đạt và vượt so năm trước; tuyển mới và đào tạo nghề cho lao động vượt kế hoạch.

* NHỮNG KHÓ KHĂN TỒN TẠI:

- Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều bất lợi về điều kiện thời tiết (tình hình mưa lũ ở các huyện phía Nam và nắng hạn cục bộ ở một số khu vực phía Bắc trong vụ Hè Thu và vụ Mùa); diện tích gieo trồng cây hàng năm, sản lượng lương thực giảm so cùng kỳ; khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản còn thấp, kim ngạch xuất khẩu nông sản tiếp tục giảm so năm trước. Tình hình vi phạm lâm luật, vi phạm trong đánh bắt thuỷ hải sản trên biển vẫn còn diễn biến phức tạp, ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn còn. Giá cả hàng nông sản chưa thật ổn định; một số mặt hàng nông sản xuất khẩu giảm.

- Các dự án trọng điểm của tỉnh được triển khai tích cực sớm, tuy nhiên khối lượng thực hiện và giải ngân còn chậm so yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu là vướng đền bù giải toả, các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách trung ương bố trí vốn còn thấp, có dự án đến nay chưa được ngân sách trung ương bố trí.

- Đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp còn chậm. Kết quả thu hút đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp chưa nhiều. Đầu tư hạ tầng các cụm công nghiệp nhìn chung chưa có sự chuyển động, hoặc triển khai tiến độ còn rất chậm do vướng công tác đền bù, giải tỏa. Kết quả thu hút đầu tư thứ cấp vào các cụm công nghiệp rất thấp.

- Chất lượng giáo dục tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng tỷ lệ học sinh khá, giỏi còn thấp; tỷ lệ học sinh bỏ học có giảm nhưng vẫn còn; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ,...

Từ kết quả trên, dự ước tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2018 tăng 8,08% so cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị tăng thêm tăng 8,13%, thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,41%. Trong giá trị tăng thêm, nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,08%; công nghiệp - xây dựng tăng 15,46% (công nghiệp tăng 16,36%, xây dựng tăng 10,73%); dịch vụ tăng 7,03%./.

Nguồn: Cục Thống kê Bình Thuận 


Các tin tiếp
Sản lượng thủy sản 4 tháng đầu năm 2020 ước đạt gần 17 nghìn tấn   (15/5/2020)
Bình Thuận công bố tình huống khẩn cấp do hạn hán cấp độ 2: Nhiều việc cấp bách cần làm để chống hạn   (8/5/2020)
4 tháng đầu năm 2020: Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định   (6/5/2020)
Tình hình Kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2020   (6/5/2020)
QUYẾT ĐỊNH Về việc ban hành Ngân hàng (cơ sở dữ liệu) tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh   (6/5/2020)
Bình Thuận: Ban hành quyết định công bố chỉ số cải cách hành chính (Par index) năm 2019 của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh   (5/5/2020)
Đảm bảo thị trường hoạt động ổn định xuyên suốt thời gian phòng, chống dịch COVID-19   (4/5/2020)
Bình Thuận đạt nhiều kết quả tích cực sau hơn 2 năm thực hiện giải pháp cấp bách chống khai thác IUU   (4/5/2020)
Sẽ sớm có giải pháp phục hồi nền kinh tế   (4/5/2020)
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2020   (7/4/2020)
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2019   (7/4/2020)
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2018 TỈNH BÌNH THUẬN   (7/4/2020)
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2017 TỈNH BÌNH THUẬN   (7/4/2020)
TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 12 VÀ CẢ NĂM 2016   (7/4/2020)
Bình Thuận thu ngân sách trong Quý I năm 2020 đạt 2.712 tỷ đồng   (6/4/2020)
Tìm kiếm
Liên kết
Mạng thông tin
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập :    4383930